CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ HIỆP ƯỚC BASEL II TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI HỆ THỐNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CO SỎ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm quản trị rủi ro “Rủi ro là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những tác động bất lợi cho cá nhân hoặc tổ chức” [2, tr258]. Rủi ro thường hàm chứa trong đó khả năng gây tổn thất và có thể xảy ra đổi với tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là tài chính.
Đối với ngân hàng, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn về tài chính. Rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ và gây tổn thất lớn đến lợi nhuận cũng như sự an toàn của ngân hàng. Vì vậy, việc suy đoán, phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất là một trong những nội dung mà ngân hàng đặc biệt quan tâm. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là việc theo dõi quá trình sử dụng vốn của ngân hàng với nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát và hạn chế các loại rủi ro phát sinh cũng như đưa ra giải pháp xử lý rủi ro hiệu quả nhất, đồng thời xác định tương quan hợp lý giữa vốn tự có của ngân hàng với mức độ mạo hiểm trong sử dụng vốn của ngân hàng.
Quản trị rủi ro ngân hàng được dựa trên hàng loạt những nguyên tắc, trong đó bao gồm 9 nguyên tắc cơ bản sau [2]: - “ Nguyên tắc chấp nhận rủi ro” [2], - “ Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép” [2]. - “ Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt” [2], 5 - “ Nguyên tắc phù họp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập” [2]. - “ Nguyên tắc phù họp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính” [2], - “ Nguyên tắc hiệu quả kinh tế” [2]. - “ Nguyên tắc họp lý về thời gian” [2].
- “ Nguyên tắc phù họp với chiến lược chung của ngân hàng” [2]. - “ Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép” [2]. Nội dung quản trị rủi ro Công tác quản trị rủi ro ngân hàng bao gồm các nội dung sau: [2] + Xác định hạn mức rủi ro: Các bộ phận nghiệp vụ quản trị rủi ro xác định hạn mức rủi ro cho bộ phận mình. Hội đồng quản trị theo định kỳ có trách nhiệm xem xét lại và thông qua các hạn mức đó.
Các mức này sau đó được thông báo tới toàn bộ nhân viên các bộ phận nghiệp vụ và ban điều hành. Ban điều hành chịu trách nhiệm đảm bảo các bộ phận nghiệp vụ tuân thủ các hạn mức này. Có tỷ lệ thưởng và phạt tính trên tổng số thấp hơn và lớn hơn tổng số vượt hạn mức đó. + Đánh giá rủi ro: Việc đánh giá rủi ro đòi hỏi phải xác định được những rủi ro lớn liên quan đến các sản phẩm, dịch vụ hay hoạt động của TCTD, phải có các chốt kiểm tra nằm trong quy trình nghiệp vụ để kiềm chế rủi ro trong các hạn mức đã được đề ra cùng với các biện pháp để theo dõi các trường họp ngoại lệ vượt hạn mức rủi ro.
+ Theo dõi rủi ro: sau khi xác định hạn mức và đánh giá được mức độ rủi ro của từng loại rủi ro để từ đó theo dõi rủi ro theo từng lĩnh vực kinh doanh với những mức độ rủi ro khác nhau. + Kiểm soát rủi ro: kiểm soát rủi ro trên góc độ toàn diện các hoạt động ngân hàng để đưa ra biện pháp giảm thiểu rủi ro hợp lý. + Báo cáo đánh giá về quản trị rủi ro: căn cứ dựa trên kết quả đánh giá 6 rủi ro để báo cáo đánh giá những mặt được, tồn tại, để rút kinh nghiệm và có hướng giải quyết phù hợp. Vai trò quản trị rủi ro hoạt động ngân hàng Quản trị rủi ro hoạt động ngân hàng có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng: - Quản trị rủi ro hoạt động ngân hàng giúp NHTM tận dụng triệt để các cơ hội kinh doanh mang lại thu nhập cao, từ đó nâng cao khả năng sinh lợi cho ngân hàng.
- Mặt khác, một ngân hàng có khả năng quản trị rủi ro hiệu quả còn tạo điều kiện cho các dự án có khả năng sinh lời và tính khả thi cao tiếp nhận vốn vay từ ngân hàng cho dù khách hàng không có tài sản đảm bảo. Từ đó nâng cao độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng. - Trên giác độ vĩ mô toàn hệ thống NHTM và nền kinh tế, yêu cầu hiệu quả Quản trị rủi ro tín dụng ngày càng trở nên cấp thiết để tạo nên một thị trường tài chính lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế. CO SỞ LÝ LUẬN ÁP DỤNG HIỆP ƯỚC BASEL II VÀO HỆ THỐNG QUẢN TRỊ RỦI RO 1.
Tổng quan về Hiệp U’Ó’C Basel II Trước đòi hỏi của sự phát triển, về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của các to chức tín dụng, đặc biệt là đối với những tập đoàn ngân hàng lớn có phạm vi hoạt động quốc tế, Hiệp ước Basel II đã ra đời với những bổ sung cần thiết để khắc phục các hạn chế của Basel I cũng như giúp các ngân hàng nâng cao năng lực quản trị rủi ro. “ Basel II được phát triển dựa trên khái niệm 3 “trụ cột”, trong đó trụ cột I đưa ra những yêu cầu về vốn dự phòng rủi ro tối thiểu. Trụ cột II đặt ra các yêu cầu về giám sát và trao trách nhiệm theo dõi cho giám đốc và các nhà quản lý cao cấp của tổ chức tài chính nhằm tăng cường thực thi các 7 nguyên tắc về kiểm soát nội bộ và những hoạt động quản lý doanh nghiệp khác theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước. Trụ cột III đòi hỏi các ngân hàng công khai thông tin nhiều hơn nhằm thực thi qui tắc thị trường một cách có hiệu quả” [14].
“ Các quan chức Uỷ ban Basel lý giải, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Basel II là tạo ra một sân chơi bình đẳng trên cả cấp độ quốc tế và quốc gia cho các ngân hàng. Tuy nhiên, mức độ tác động của Basel II đến khả năng cạnh tranh của từng ngân hàng ở mỗi nước còn phụ thuộc vào việc thực thi của ngân hàng đó. Kết quả chắc chắn là nghiệp vụ Quản trị rủi ro sẽ được thực hiện tốt hơn trong tất cả các hoạt động ngân hàng” [14]. * N ội dung cơ bản của H iệp ước Basel II “ Hiệp ước Basel II (International Convergence of Capital Mesurement and Capiatal Standard, A Revised framework), chính thức được ban hành vào tháng 6/2004 thay thế cho Hiệp ước Basel I sau 6 năm phát triển và tổng hợp ý kiến đóng góp từ khắp nơi trên thế giới.
Hiệp ước Basel II làm tăng tính nhạy cảm của vổn tự có đối với rủi ro và tính hiệu quả của quản lý vốn. Hiệp ước này gồm 3 trụ cột như sau” [15]: 8 Stf đồ 1.1: Các cấu phần Hiệp ước Basel II 1. Mục tiêu áp dụng hiệp ước Basel II vào quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại Hiệp ước Basel II là một loạt các quy tắc nhàm điều chỉnh hoạt động ngân hàng đa quốc gia. Ngày nay, dường như không một ngân hàng nào có thể tách rời mà không có mối liên hệ với các ngân hàng trên thế giới.
Do vậy, hiểu biết và áp dụng những quy định Basel II sẽ là rất quan trọng đối với phát triển và hoạt động ổn định của các ngân hàng. Basel II đưa ra nhiều quy định để các ngân hàng tránh khỏi những rủi ro về mặt dữ liệu và thông tin ngân hàng có thể phát sinh từ khái niệm, quy tắc đến so sánh, kết hợp những yếu tố quản lý như một chìa khoá để giảm thiểu rủi ro. ứng dụng Basel II giúp các ngân hàng quản trị rủi ro ngân hàng tót hơn. Hiệp ước này sẽ tạo nên một bước tiến mới trong quá trình cải tiến chất lượng quản lý các định chế tài chính, ổn định hệ thống ngân hàng và trên hết là tăng tính hiệu quả của hoạt động tài trợ nền kinh tế.
Các nhà quản trị ngân 9 hàng và cổ đông, cũng như với những ai tin tưởng vào quy luật thị trường sẽ được hưởng những lợi ích lớn từ việc ứng dụng Basel II, một Hiệp ước thực sự hữu ích trong việc giúp các ngân hàng nâng cao năng lực quản trị rủi ro, trong đó có quản trị rủi ro tín dụng. ❖ Basel II thiết lập sự an toàn cho hệ thống ngân hàng Basel làm tăng sự chú trọng quản trị rủi ro tại mỗi ngân hàng, nhờ đó nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng này. Basel II ăn sâu vào tài chính hiện đại và nỗ lực phát triển trong các tổ chức ngân hàng lớn một cách tiếp cận tổng thể, có hệ thống trong việc đánh giá các rủi ro khác nhau mà ngân hàng phải đổi mặt. Nó chắc chắn làm nâng cao kỳ vọng của cả cơ quan giám sát lẫn thị trường vào hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng.
Điều này rõ ràng làm tăng nguồn lực và sự chú tâm của tất cả các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng của các nước phát triển và đang phát triển dành cho các hoạt động quản trị rủi ro cụ thể nhằm mục đích giảm thiếu rủi ro, tăng lợi nhuận; Hiệp ước cũng hướng sự chú ý của các ngân hàng này tới các loại rủi ro có the có cũng như những tổn thất tiềm tàng mà nó có thể gây ra. Việc áp dụng 3 trụ cột theo khuyến nghị của Basel II thúc đẩy Ngân hàng TMCP đầu tư vào và cải thiện năng lực quản trị rủi ro. Phương pháp tiếp cận tiên tiến đối với rủi ro tín dụng yêu cầu các ngân hàng lớn phân tích rủi ro tín dụng một cách chính thức và có hệ thống, thông qua việc phân tích khả năng và rủi ro đổ vỡ. Chế độ lưu tâm tới rủi ro chính thức như theo khuyến nghị tại Basel II tạo ra những hi vọng về các tác động ổn định hơn của năng lực tín dụng.