Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lô Thị Hòa tập trung vào vấn đề suy thoái tài nguyên rừng và áp lực bảo tồn đa dạng sinh học tại tỉnh Bắc Kạn. Rừng tự nhiên tại khu vực này sở hữu nguồn tài nguyên sinh vật phong phú, mang giá trị cao về cả kinh tế lẫn chức năng sinh thái. Tuy nhiên, tình trạng khai thác không hợp lý và tập quán phát nương làm rẫy kéo dài đã dẫn đến suy thoái môi trường sống nghiêm trọng. Dù Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương giao đất giao rừng và triển khai các chương trình lớn như dự án trồng 5 triệu ha rừng nhằm phát huy thế mạnh cây bản địa, áp lực bảo vệ rừng trên thực tế vẫn diễn biến phức tạp.

Khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể là trung tâm đa dạng sinh học đặc sắc của vùng Đông Bắc Việt Nam, được công nhận là Di sản thiên nhiên ASEAN (năm 2004) với nhiều loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới. Trong bối cảnh đó, phương pháp quản lý thủ công truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế về khả năng cập nhật không gian và dự báo. Việc ứng dụng công nghệ Hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám (RS) và định vị vệ tinh (GPS) được tác giả lựa chọn làm công cụ giải quyết bài toán phân tích các yếu tố sinh thái, hỗ trợ phân vùng nhạy cảm đối với các loài thực vật quý hiếm.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể trong văn bản:

  1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu phân vùng thích nghi bảo tồn và đề xuất giải pháp bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm tại Vườn Quốc gia Ba Bể.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và xác định được một số yếu tố sinh thái - môi trường tác động đến sự phân bố của một số loài thực vật quý hiếm tại Vườn Quốc gia Ba Bể.
    • Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS xây dựng bản đồ phân vùng bảo tồn thích nghi (theo mức độ nhạy cảm của một số yếu tố môi trường) một số loài thực vật quý hiếm tại Vườn Quốc gia Ba Bể.
    • Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học một số loài thực vật đặc hữu, quý hiếm tại Vườn Quốc gia Ba Bể.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các loài thực vật quý hiếm (trọng tâm là cây Nghiến, Đinh, Trai Lý) cùng các yếu tố môi trường nhạy cảm tác động tới sự phân bố của chúng. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát diện tích Vườn Quốc gia Ba Bể (tập trung tại địa bàn các xã Nam Mẫu, Nam Cường, Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành từ tháng 01/2014 đến ngày 30/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về đa dạng sinh học dựa trên các nghiên cứu của Lê Trọng Cúc (2002) và Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (2009), phân tích đa dạng sinh học ở ba cấp độ: di truyền (gen), loài và hệ sinh thái, cùng các giá trị dịch vụ sinh thái, điều hòa khí hậu và y dược. Về mặt công nghệ địa tin học, đề tài tiếp cận khung lý thuyết của Đàm Xuân Vận (2008) và Mai Thị Ái Tuyết (2009), xác định năm thành phần cấu thành GIS (phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người, đào tạo) và nguyên lý của hệ thống viễn thám gồm bảy phần tử (nguồn năng lượng, tia phát xạ qua khí quyển, tương tác bề mặt, bộ cảm biến, truyền tải xử lý, giải đoán phân tích và ứng dụng).

Nguồn dữ liệu không gian và thuộc tính được sử dụng bao gồm:

  • Tư liệu viễn thám: Cảnh ảnh vệ tinh quang học SPOT-5 chụp tháng 4/2011 với độ phân giải không gian 2,5 m, phiên hiệu mảnh F-48-44-A (dung lượng 371 MB) do công ty Spatial Decisions cung ứng.
  • Mô hình số độ cao DEM (Digital Elevation Model) phục vụ trích xuất các thông số địa hình.
  • Bản đồ chuyên đề kế thừa: Bản đồ địa hình, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ ranh giới hành chính và tài liệu lưu trữ từ Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể.
  • Dữ liệu thuộc tính: Báo cáo kinh tế - xã hội, dân số, hiện trạng quản lý bảo vệ rừng tại các xã nghiên cứu.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực hiện bao gồm:

  • Phương pháp giải đoán ảnh và xử lý dữ liệu viễn thám: Sử dụng phần mềm ENVI để tiền xử lý, nắn chỉnh hình học, phân loại độ che phủ mặt đất dựa trên bộ khóa giải đoán kết hợp mẫu kiểm chứng thực địa, từ đó kết xuất thông tin diện tích và trạng thái thảm thực vật.
  • Phương pháp phân tích không gian GIS: Sử dụng bộ công cụ trên phần mềm ArcGIS 10 (và ArcGIS 9.3) gồm ArcMap, ArcCatalog, ArcToolbox để xây dựng Geodatabase, số hóa các lớp chuyên đề (độ dốc, hướng dốc/hướng phơi, thủy hệ, thổ nhưỡng) và thực hiện phép phân tích chồng xếp (overlay) nhằm phân hạng vùng nhạy cảm thích nghi.
  • Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (ÔTC): Thiết lập 05 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên mang tính đại diện, diện tích mỗi ô là 2.000 m² (40m x 50m) đối với các trạng thái rừng có tầng cây cao (đường kính ngang ngực D ≥ 6 cm), bố trí cạnh dài chạy dọc theo đường đồng mức. Tại các khu vực sườn núi có địa hình quá dốc, tác giả thiết lập các ô thứ cấp có diện tích nhỏ hơn (100 - 200 m²) thay thế, tuân thủ nguyên tắc cứ chênh lệch 100 m độ cao bố trí 01 ô tiêu chuẩn.
  • Phương pháp điều tra thực địa và GPS: Sử dụng máy định vị GPS thu thập tọa độ các điểm xuất hiện của loài và đối chiếu tính chính xác của các đường ranh giới thực phủ giải đoán từ ảnh.
  • Phương pháp thống kê: Nhập liệu và tổng hợp số liệu đo đếm lâm học qua phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu tập trung xác lập tính cấp thiết của đề tài trên cơ sở thực trạng tài nguyên rừng Bắc Kạn và áp lực bảo tồn tại Vườn Quốc gia Ba Bể. Tác giả nêu rõ mục tiêu tổng quát, ba mục tiêu cụ thể, năm yêu cầu kỹ thuật cần đạt và xác định ý nghĩa khoa học trong việc tích hợp công nghệ địa tin học vào quản lý môi trường sinh thái, đồng thời khẳng định giá trị thực tiễn đối với cơ quan quản lý rừng đặc dụng tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết lý luận về đa dạng sinh học và hệ thống hóa các đặc tính kỹ thuật của GIS và viễn thám. Tác giả phân tích cấu trúc của GIS, so sánh sự khác biệt giữa GIS với các phần mềm liên quan như CAD, Desktop Mapping, hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS). Về viễn thám, tác giả rà soát các nguồn dữ liệu vệ tinh từ độ phân giải siêu cao (Quickbird, Worldview-1, Ikonos, GeoEye-1) đến độ phân giải cao và trung bình (SPOT-5, IRS, CBERS-2, ASTER, Landsat). Tác giả cũng tổng thuật tình hình ứng dụng GIS - RS trên thế giới trong các lĩnh vực quản lý dầu khí, thủy văn lưu vực sông, bảo tồn sinh vật và rừng; đồng thời đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước, chỉ ra ba rào cản lớn tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu: thiếu chiến lược phát triển tổng thể, thiếu quy chuẩn dữ liệu thống nhất và sự thiếu cơ chế chia sẻ cơ sở dữ liệu dùng chung giữa các ban ngành.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết địa bàn thực hiện tại các xã Nam Mẫu, Nam Cường, Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể trong thời gian từ tháng 01/2014 đến ngày 30/05/2014. Tác giả cụ thể hóa quy trình kỹ thuật gồm bốn bước: điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội; xây dựng quy trình thành lập bản đồ nhạy cảm; xác định các chỉ tiêu giải đoán ảnh và đo đếm ngoài thực địa; ứng dụng ArcGIS và ENVI để xây dựng cơ sở dữ liệu. Chương này quy định chi tiết kỹ thuật lập 05 ô tiêu chuẩn diện tích 2.000 m² và 100 - 200 m² theo đường đồng mức và đai cao 100 m.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả trình bày toàn bộ số liệu đo đếm thực địa và các lớp bản đồ chuyên đề đã được số hóa:

  • Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Vườn Quốc gia Ba Bể có diện tích 7.610 ha (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.226 ha và trên 300 ha mặt hồ). Tọa độ địa lý: 105,36° Kinh Đông và 22,33° Vĩ Bắc; độ cao biến thiên từ 150 m đến 1.200 m (dãy núi Phja Boóc cao 1.500 m). Dân số vùng lõi và phụ cận gồm 10.470 người (1.745 hộ) sinh sống tại 06 xã; trên 70% là lao động nông nghiệp. Tỷ lệ đất lâm nghiệp chiếm 88,3% diện tích tự nhiên nhưng chỉ có khoảng 2% lao động tham gia trực tiếp vào sản xuất lâm nghiệp.
  • Kết quả xây dựng bản đồ thực phủ: Giải đoán từ ảnh SPOT-5 (độ phân giải 2,5 m) cho thấy thảm thực vật bao trùm toàn bộ khu vực. Đất rừng già phân bố tập trung chủ yếu ở xã Nam Cường và xã Nam Mẫu; đất rừng trung bình phân bố đều tại Nam Mẫu, Nam Cường, Khang Ninh và Tây Nam Cao Thượng; đất thảm cỏ tập trung nhiều ở Khang Ninh, Cao Trĩ và phía Đông Cao Thượng.
  • Kết quả bản đồ đất: Khu vực chủ yếu là đất đỏ nâu trên núi đá vôi và đất vàng đỏ trên đá macma (thuộc xã Cao Trĩ, Cao Thượng, Nam Mẫu); đất nâu đỏ trên đá macma phân bố tại xã Khang Ninh; đất phù sa sông suối xuất hiện rải rác diện tích hẹp ở Cao Trĩ và Nam Cường.
  • Kết quả bản đồ địa hình: Bản đồ độ dốc xác định độ dốc lớn nhất nằm tại các xã Khang Ninh, Cao Trĩ, Cao Thượng. Bản đồ hướng dốc (hướng phơi) cho thấy bức xạ phân bố khắp bề mặt, trong đó hướng Tây, Bắc và Tây Bắc là các hướng phơi đón nhận nhiều ánh sáng; hướng Đông Bắc có hướng phơi ít; vùng mặt hồ và địa hình bằng phẳng có hệ số hướng phơi bằng 1.
  • Kết quả bản đồ thủy văn: Thể hiện chi tiết mạng lưới sông Năng và toàn bộ diện tích lòng hồ Ba Bể nằm trọn trong ranh giới hành chính của xã Nam Mẫu.
  • Điều tra lâm học và sinh học loài: Đánh giá thành phần loài trong 05 ô tiêu chuẩn, phân tích đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học và phân bố của cây Nghiến, cây Đinh và cây Trai Lý.
  • Đề xuất giải pháp bảo tồn: Tác giả xây dựng bốn nhóm biện pháp gồm quản lý hành chính, kỹ thuật lâm sinh, giáo dục tuyên truyền cộng đồng và quy hoạch vùng bảo tồn.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Phần kết luận tóm lược những kết quả chính đạt được về việc số hóa các yếu tố môi trường và xác lập cơ sở khoa học phân vùng bảo tồn. Tác giả đồng thời nêu rõ các hạn chế về mặt thời gian khảo sát thực tế, số lượng ô tiêu chuẩn điều tra thực địa và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu không gian phục vụ công tác giám sát đa dạng sinh học lâu dài tại Vườn Quốc gia Ba Bể.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết các thông số sinh thái - khí hậu và cấu trúc khu hệ thực vật tại Vườn Quốc gia Ba Bể thông qua các số liệu tổng hợp trong văn bản.

Về điều kiện khí tượng thủy văn, số liệu do Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể cung cấp ghi nhận nhiệt độ trung bình năm là 22°C (trung bình thực tế các tháng đạt 22,3°C; nhiệt độ cao nhất đạt 39°C, thấp nhất là 0,6°C). Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 83,3%. Lượng mưa trung bình năm theo bảng số liệu khí tượng đạt 13,78 mm (chỉ số theo bảng thống kê hàng tháng dao động từ 4,0 mm đến 19,0 mm). Hồ Ba Bể có dung tích chứa trung bình 90 triệu m³ nước trên diện tích mặt nước khoảng 500 ha, giữ vai trò điều tiết giảm lũ trọng yếu cho lưu vực sông Năng, sông Gâm và sông Lô.

Về hiện trạng đa dạng thực vật, khóa luận tổng hợp thành phần thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Quốc gia Ba Bể gồm 417 loài, thuộc 300 chi và 114 họ, phân bố chi tiết theo bảng dưới đây:

Nhóm ngành thực vật Số họ Tỷ lệ họ (%) Số chi Tỷ lệ chi (%) Số loài Tỷ lệ loài (%)
Thông đất 2 1,75 2 0,66 4 0,95
Dương xỉ 12 10,52 17 5,66 26 6,23
Hạt trần 3 2,63 3 1,00 3 1,72
Hạt kín 97 85,08 278 92,66 384 92,08
Tổng cộng 114 100,00 300 100,00 417 100,00

Về khu hệ động vật, văn bản ghi nhận Vườn Quốc gia Ba Bể có 81 loài thú (22 loài ghi trong Sách Đỏ), 322 loài chim (07 loài ghi trong Sách Đỏ), 46 loài bò sát - lưỡng cư (15 loài ghi trong Sách Đỏ) và 106 loài cá (11 loài ghi trong Sách Đỏ).

Về giải pháp bảo tồn, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Biện pháp quản lý: Tăng cường lực lượng kiểm lâm tại các trạm kiểm soát; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động xâm lấn rừng và khai thác lâm sản trái phép; giải quyết mâu thuẫn giữa 70% lao động nông nghiệp sống phụ thuộc vào tài nguyên với diện tích 88,3% đất lâm nghiệp.
  2. Biện pháp kỹ thuật: Áp dụng các giải pháp lâm sinh khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung các loài cây bản địa quý hiếm (Nghiến, Đinh, Trai Lý) tại các đai cao và lập địa thích hợp.
  3. Biện pháp giáo dục: Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học cho các cộng đồng dân cư sinh sống xen kẽ trong vườn (người Kinh, Tày, Dao, H’Mông).
  4. Biện pháp về quy hoạch bảo tồn: Tích hợp bản đồ phân vùng nhạy cảm vào công tác phân khu chức năng, xác định ranh giới vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng phục hồi sinh thái trên cơ sở dữ liệu GIS.

Đóng góp chính của khóa luận là đã kết nối quy trình xử lý ảnh vệ tinh SPOT-5 độ phân giải cao (2,5 m) với dữ liệu điều tra thực địa 05 ô tiêu chuẩn để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu không gian đồng bộ (thực phủ, thổ nhưỡng, độ dốc, hướng phơi, thủy văn), tạo căn cứ định lượng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn tại Vườn Quốc gia Ba Bể thay vì phương pháp đánh giá định tính đơn thuần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số mặt tồn tại bắt nguồn từ phạm vi và điều kiện nghiên cứu thực tế:

  • Thời gian tiến hành đề tài tương đối ngắn (từ tháng 01/2014 đến 30/05/2014), chưa theo dõi được biến động mùa vụ sinh thái đầy đủ qua các chu kỳ sinh trưởng của thực vật.
  • Dung lượng mẫu khảo sát thực địa còn hạn chế với 05 ô tiêu chuẩn (diện tích 2.000 m² và các ô nhỏ 100 - 200 m² thay thế), chưa bao quát toàn bộ các tiểu vùng vi khí hậu và địa hình chia cắt phức tạp của núi đá vôi Ba Bể.
  • Nguồn cơ sở dữ liệu nền phụ thuộc vào tài liệu thu thập từ các cơ quan địa phương, gặp rào cản do thiếu quy chuẩn dữ liệu GIS chung và thiếu sự liên kết chia sẻ dữ liệu liên ngành tại thời điểm nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề cập là:

  • Mở rộng phạm vi điều tra ô tiêu chuẩn trên các đai độ cao khác nhau nhằm tăng độ tin cậy cho mô hình dự báo không gian.
  • Bổ sung quan trắc chuyên sâu về tính chất lý hóa thổ nhưỡng và điều kiện vi khí hậu dưới tán rừng.
  • Ứng dụng quy trình công nghệ GIS - RS đã thiết lập để nghiên cứu phân vùng nhạy cảm cho các loài thực vật đặc hữu khác trong khu vực, chẳng hạn như loài Trúc dây hoặc các loài phong lan quý hiếm.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với:

  • Sinh viên, học viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Rừng, Địa lý Tự nhiên và Bản đồ - Viễn thám: Cung cấp tài liệu tham khảo về quy trình kết hợp phần mềm xử lý ảnh ENVI với phần mềm ArcGIS để số hóa dữ liệu tài nguyên thiên nhiên.
  • Cán bộ quản lý bảo tồn tại các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Tham khảo phương pháp phân cấp và chồng xếp các bản đồ đơn tính (thực phủ, đất, độ dốc, hướng phơi, thủy văn) phục vụ khoanh vùng bảo vệ các loài gỗ nhóm IIA trên sinh cảnh núi đá vôi.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Quy trình thiết kế ô tiêu chuẩn theo đường đồng mức và đai cao 100 m, cùng hệ thống bảng số liệu thống kê thành phần loài thực vật bậc cao có mạch và các lớp bản đồ chuyên đề tại khu vực Ba Bể.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng loại ảnh vệ tinh nào và các thông số kỹ thuật chính là gì? Khóa luận sử dụng ảnh vệ tinh quang học SPOT-5 do công ty Spatial Decisions cung ứng. Ảnh có độ phân giải không gian là 2,5 m, dung lượng lưu trữ 371 MB, phiên hiệu mảnh F-48-44-A bao trọn Vườn Quốc gia Ba Bể và vùng đệm, thời gian chụp vào tháng 4/2011 trong điều kiện thời tiết tốt và ánh sáng phù hợp.

2. Quy cách thiết lập ô tiêu chuẩn (ÔTC) điều tra thực địa được tác giả thực hiện như thế nào? Tác giả thiết lập 05 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên mang tính đại diện. Mỗi ô tiêu chuẩn có diện tích 2.000 m² (kích thước 40m x 50m) đối với trạng thái rừng có tầng cây cao (đường kính ngang ngực D ≥ 6 cm), chiều dài ô chạy dọc theo đường đồng mức. Ở những nơi sườn dốc hiểm trở, tác giả lập các ô nhỏ hơn có diện tích 100 - 200 m² có cùng độ cao thay thế, và tuân thủ quy tắc cứ chênh lệch 100 m độ cao lập 01 ô tiêu chuẩn.

3. Khóa luận tập trung nghiên cứu sự phân bố của những loài thực vật quý hiếm cụ thể nào? Khóa luận tập trung đánh giá đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học, sinh thái học và xây dựng cơ sở dữ liệu xác định vùng thích nghi cho ba loài cây gỗ quý hiếm thuộc nhóm IIA là cây Nghiến, cây Đinh và cây Trai Lý.

4. Dữ liệu bản đồ hướng dốc (hướng phơi) tại Vườn Quốc gia Ba Bể cho thấy đặc điểm gì? Bản đồ hướng dốc trích xuất từ mô hình số độ cao DEM cho thấy diện tích bề mặt khu vực nghiên cứu đón nhận hướng phơi lớn chủ yếu ở các hướng Tây, Bắc và Tây Bắc. Hướng Đông Bắc là khu vực có hướng phơi ít. Khu vực mặt hồ và các vùng địa hình bằng phẳng có hệ số hướng phơi bằng 1.

5. Tác giả đã chỉ ra sự mất cân đối nào trong cơ cấu dân sinh và lao động tại Vườn Quốc gia Ba Bể? Số liệu khảo sát cho thấy tổng dân số trong vùng là 10.470 nhân khẩu (1.745 hộ) với hơn 5.000 lao động chính, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 70%. Trong khi diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 88,3% tổng diện tích đất tự nhiên thì chỉ có khoảng 2% lực lượng lao động tham gia trực tiếp vào sản xuất lâm nghiệp, tạo ra mâu thuẫn lớn giữa tiềm năng tài nguyên rừng và cơ cấu nghề nghiệp của người dân.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Lô Thị Hòa đã xây dựng thành công quy trình ứng dụng công nghệ GIS (ArcGIS) và viễn thám (ENVI, ảnh SPOT-5 độ phân giải 2,5 m) tích hợp cùng dữ liệu điều tra 05 ô tiêu chuẩn thực địa để phân tích các yếu tố sinh thái tác động đến sự phân bố của cây Nghiến, Đinh và Trai Lý tại Vườn Quốc gia Ba Bể. Nghiên cứu cung cấp hệ thống bản đồ chuyên đề đa lớp về thực phủ, thổ nhưỡng, độ dốc, hướng phơi và thủy văn, phản ánh rõ nét mối tương quan giữa điều kiện tự nhiên với sự tồn tại của các loài thực vật quý hiếm. Những kết quả định lượng này tạo tiền đề khoa học thiết thực cho công tác phân vùng nhạy cảm và hoàn thiện các giải pháp quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.