Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái của loài Giảo cổ lam tại xã Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn" do sinh viên Hoàng Thanh Tú thực hiện (ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2017) dưới sự hướng dẫn của GS. Đặng Kim Vui và TS. Nguyễn Công Hoan.
Cây Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), là một loại thảo dược quý chứa hàm lượng cao các hợp chất nhóm flavonoid và saponin (với hơn 80 loại saponin, gấp 3–4 lần nhân sâm), có tác dụng điều hòa huyết áp, hạ cholesterol máu, hạ đường huyết, tăng cường miễn dịch và chống oxy hóa. Do giá trị sử dụng làm dược liệu và thực phẩm chức năng ngày càng tăng, các quần thể Giảo cổ lam tự nhiên tại Việt Nam (vốn phân bố ở độ cao từ 200–2.000 m tại Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn...) đang bị khai thác ồ ạt, dẫn đến cạn kiệt nghiêm trọng. Trong Sách đỏ Việt Nam (2007), Giảo cổ lam được xếp ở thứ hạng nguy cấp EN A1a, c, d theo tiêu chuẩn IUCN. Trước thực tế đó, việc điều tra vùng phân bố tự nhiên, xác định các đặc tính sinh thái và hình thái học của loài tại địa phương là cơ sở khoa học cấp thiết phục vụ công tác nhân giống, gây trồng và bảo tồn nguồn gen.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
- Xác định một số đặc điểm hình thái, sinh thái của loài Giảo cổ lam tại khu vực nghiên cứu.
- Làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn loài và định hướng gây trồng nhằm tạo sinh kế, xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài Giảo cổ lam mọc tự nhiên trong các trạng thái rừng tại xã Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi nghiên cứu: Đặc điểm hình thái học (thân, lá, rễ), phân bố sinh thái, cấu trúc quần xã thực vật kèm theo và tri thức bản địa của cộng đồng về thu hái, sử dụng và quản lý Giảo cổ lam trên địa bàn xã Bộc Bố.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm áp dụng
- Cơ sở bảo tồn nguồn gen: Đề tài vận dụng nguyên lý bảo tồn nội vi (In situ) nhằm duy trì và phục hồi quần thể loài trong hệ sinh thái tự nhiên, kết hợp định hướng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) thông qua kỹ thuật gieo ươm, giâm hom và nhân giống cây trồng lâm sản ngoài gỗ.
- Đánh giá cấu trúc thảm thực vật: Ứng dụng chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - $IV%$) theo Curtis (1959) và ngưỡng $IV% > 5%$ của Daniel Marmillod để xác định các loài cây gỗ ưu thế sinh thái trong lâm phần; phân loại thảm thực vật theo tiêu chuẩn của Thái Văn Trừng (1978).
- Thang đo độ nhiều thảm tươi: Sử dụng thang phân cấp Drude mở rộng với các cấp độ che phủ: Soc (75–100%), Cop1 (50–75%), Cop2 (25–50%), Cop3 (5–25%), Sp (<5%), Sol (rải rác), Un (cá biệt), Gr (mọc từng khóm).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu
- Phương pháp điều tra cấu trúc lâm phần: Thiết lập 15 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời với diện tích $500\text{ m}^2$ ($20\text{ m} \times 25\text{ m}$ hoặc tương đương tùy địa hình) tại các trạng thái rừng có Giảo cổ lam phân bố, kết hợp điều tra bổ sung theo tuyến.
- Điều tra tầng cây gỗ: Đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều cao dưới cành ($H_{dc}$), đường kính tán ($D_t$) và phân cấp chất lượng cây (Tốt, Trung bình, Xấu).
- Điều tra tầng tái sinh: Trong mỗi OTC lập 5 ô dạng bản diện tích $25\text{ m}^2$ ($5\text{ m} \times 5\text{ m}$) tại 4 góc và 1 tâm (tổng số điều tra trên toàn khu vực là 135 ô dạng bản); ghi nhận loài, nguồn gốc (chồi/hạt), phẩm chất và chiều cao theo 4 cấp (<0,3 m; 0,3–0,5 m; 0,5–1,0 m; >1,0 m).
- Điều tra cây bụi, thảm tươi: Đo độ che phủ theo 2 đường chéo ô dạng bản $25\text{ m}^2$ và ghi nhận thành phần loài theo biểu mẫu.
- Đo độ tàn che của tán rừng: Sử dụng phương pháp đo chuyên dụng tại 3 vị trí trong OTC với hệ số hiệu chỉnh $k = 1,04$.
- Phương pháp thu thập mẫu hình thái: Cắt các đoạn thân bánh tẻ dài 30–40 cm có đầy đủ mấu đốt, lá và tua cuốn, làm khô mẫu tiêu bản bằng giấy báo và phân tích đo đạc các chỉ tiêu kích thước, số lượng lá chét trong phòng thí nghiệm.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Áp dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA) thông qua bảng hỏi phỏng vấn bán cấu trúc với các hộ dân có kinh nghiệm thu hái và sử dụng lâm sản ngoài gỗ.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng các công thức toán học lâm sinh:
- Chỉ số tổ thành tầng cây gỗ: $IV_i% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$ (trong đó $N_i%$ là tỷ lệ số cá thể, $G_i%$ là tỷ lệ tiết diện ngang của loài $i$).
- Mật độ lâm phần: $N/\text{ha} = \frac{10.000 \times n}{S}$.
- Hệ số tổ thành tái sinh: $K_i = \frac{n_i}{N} \times 10$ (loài có $n% \ge 5%$ được tham gia công thức tổ thành).
- Tỷ lệ chất lượng và mật độ cây tái sinh trên hecta.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày cơ sở khoa học về giá trị dược liệu của Giảo cổ lam, tình trạng khai thác quá mức tại các tỉnh miền núi phía Bắc và tính cấp thiết của việc nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học của loài tại xã Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn; xác định mục tiêu và ý nghĩa thực tiễn, khoa học của đề tài.
Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế về bảo tồn tài nguyên rừng gắn với sinh kế cộng đồng, nghiên cứu về thành phần hóa thực vật của chi Gynostemma, các hoạt chất saponin (như gypenoside VN 01–07, phanoside) và dược lý học hạ đường huyết, chống ung thư, hạ mỡ máu. Đồng thời, chương này tổng quan chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bộc Bố (diện tích 54,33 $\text{km}^2$, dân số 2.639 người, 4 dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh; địa hình chia làm hai tiểu vùng cao - thấp; 3 nhóm đất chính gồm Feralit nâu vàng trên đá vôi, Feralit đỏ vàng trên phiến thạch sét và đất dốc tụ phù sa; khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa khô lạnh từ tháng 10 đến tháng 3).
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định 4 nội dung điều tra chính và mô tả chi tiết phương pháp kế thừa tài liệu, phương pháp điều tra thực địa theo ô tiêu chuẩn ($500\text{ m}^2$) và ô dạng bản ($25\text{ m}^2$), phương pháp thu hái - ép tiêu bản hình thái, phương pháp phỏng vấn PRA/RRA cùng các công thức tính toán chỉ số lâm sinh ($IV%$, mật độ, hệ số tổ thành, độ che phủ).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày các số liệu thực nghiệm thu thập được về:
- Phân loại và nhận dạng: Xác định sự có mặt của 2 loài chính gồm Giảo cổ lam 5 lá chét (Gynostemma pentaphyllum) và Giảo cổ lam 7 lá chét (Gynostemma pubescens).
- Đặc điểm phân bố sinh thái: Số liệu 15 OTC cho thấy loài phân bố ở độ cao 467–698 m, độ dốc 15–19°, độ tàn che tán rừng từ 0,50–0,68. Loài 7 lá chiếm ưu thế tần suất xuất hiện (10/15 OTC, tỷ lệ >65%), trong khi loài 5 lá chỉ xuất hiện ở 5/15 OTC (tỷ lệ 33%) ở độ cao dưới 600 m.
- Đặc điểm hình thái: So sánh chi tiết về chiều dài thân chính, đường kính thân, số cành cấp 1, kích thước lá chét, kiểu rễ (rễ trụ ở cây con, rễ chùm nông 5–6 cm ở cây trưởng thành).
- Đặc điểm sinh trưởng và tái sinh: Chu kỳ sinh trưởng mạnh vào mùa mưa (tháng 4–10, mạnh nhất tháng 5–7 với 4–5 đợt sinh trưởng); ngừng sinh trưởng và rụng lá/khô lụi vào mùa đông khô lạnh (tháng 11 đến tháng 2). Tái sinh chủ yếu bằng chồi (chiếm ưu thế từ tháng 2–10) và hạt (tháng 4–6).
- Cấu trúc thực vật đi kèm: Mô tả công thức tổ thành tầng cây gỗ ở các trạng thái rừng IIa, IIb, IIIa1 và danh lục các loài cây bụi, thảm tươi đồng phân bố (đặc biệt là loài dây Tầm phong có hình thái tương đồng).
- Tri thức bản địa và kinh nghiệm cộng đồng: Tổng hợp 8 loài cây rừng dùng làm rau ăn/thuốc; phương thức thu hái thủ công cả dây hoặc hái lá non; phân tích giá bán và đề xuất 2 nhóm giải pháp kỹ thuật gây trồng và cơ chế chính sách quản lý.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả định lượng đạt được về hình thái, sinh thái, tái sinh và đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương, ngành khuyến nông trong việc bảo vệ quần thể tự nhiên và triển khai mô hình gây trồng bán tự nhiên.
Kết quả và đóng góp
1. Phân bố sinh thái và hình thái học của các loài Giảo cổ lam
Kết quả điều tra thực nghiệm tại 15 ô tiêu chuẩn ($500\text{ m}^2$/ô) tại xã Bộc Bố ghi nhận sự phân bố của 2 dạng Giảo cổ lam:
| Chỉ tiêu hình thái / sinh thái |
Giảo cổ lam 5 lá chét (G. pentaphyllum) |
Giảo cổ lam 7 lá chét (G. pubescens) |
| Tần số xuất hiện tại OTC |
5/15 OTC (chiếm 33,3%) |
10/15 OTC (chiếm 66,7%) |
| Độ cao phân bố |
Dưới 600 m (476 – 521 m) |
463 – 683 m |
| Độ dốc lập địa |
15° – 18° |
15° – 19° |
| Độ tàn che tán rừng ($S$) |
0,51 – 0,59 |
0,51 – 0,68 |
| Dạng thân |
Dây leo thân thảo, có tua cuốn, mặt cắt ngang có cạnh |
Dây leo thân thảo, có tua cuốn, mặt cắt ngang có cạnh |
| Màu sắc thân và lá |
Xanh đậm, gân lá nổi rõ |
Xanh nhạt, gân lá không nổi rõ, vị đắng hơn |
| Chiều dài thân chính |
2,6 – 4,6 m (cá biệt đạt >7 m) |
3,1 – 5,8 m (tối đa ~5 m) |
| Đường kính thân |
3,3 – 3,6 mm |
2,3 – 2,7 mm |
| Số cành cấp 1 / thân chính |
8 – 13 cành |
15 – 21 cành |
| Chiều dài lóng thân |
54 – 157 mm (lóng dài 170 – 200 mm) |
54 – 157 mm |
| Kiểu lá & Số lá chét |
Lá kép chân vịt, 5 lá chét |
Lá kép chân vịt, 7 lá chét |
| Kích thước lá chét (Dài $\times$ Rộng) |
67 – 83 mm $\times$ 23 – 36 mm |
86 – 115 mm $\times$ 27 – 39 mm |
| Số lá trên thân chính |
22 – 45 lá |
27 – 47 lá |
| Đặc điểm lông thân/lá |
Thân và lá nhẵn, phiến có lông thưa |
Thân và lá nhẵn, phiến có lông thưa |
| Hệ thống rễ |
Cây con rễ trụ; trưởng thành rễ chùm nông (5–6 cm) |
Cây con rễ trụ; trưởng thành rễ chùm nông (5–6 cm), mọc rễ đốt ở khe nước |
2. Đặc điểm sinh trưởng và tái sinh tự nhiên
- Quy luật sinh trưởng: Giảo cổ lam sinh trưởng mạnh nhất từ tháng 4 đến tháng 10 (trùng mùa mưa, nhiệt ẩm cao), đạt đỉnh điểm từ tháng 5 đến tháng 7 với 4–5 đợt sinh trưởng (loài 5 lá đạt 5 đợt). Từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau (mùa khô lạnh, nhiệt độ có lúc giảm 2–8°C), cây ngừng sinh trưởng; dây non và lá của loài 5 lá trên sườn núi đá bị khô héo, rụng lụi; loài 7 lá ở ven suối giữ được thân bánh tẻ nhờ rễ phụ phát triển từ các đốt cắm vào bùn nước.
- Đặc điểm tái sinh:
- Tái sinh chồi: Diễn ra sớm từ tháng 2–10 từ phần gốc và thân già sát đất. Loài 7 lá có khả năng tái sinh chồi rất mạnh, từ một gốc có thể phân nhánh bò lan diện tích 30–40 $\text{m}^2$ (ghi nhận tại 4/10 OTC có tái sinh). Loài 5 lá tái sinh chồi từ tháng 3–9 (ghi nhận tại 2/5 OTC có tái sinh).
- Tái sinh hạt: Diễn ra từ tháng 4–5 (loài 7 lá) và tháng 4–6 (loài 5 lá) khi có mưa đầu mùa.
3. Cấu trúc quần xã thực vật đồng phân bố
Giảo cổ lam phân bố ở các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi từ IIa, IIb đến IIIa1:
- Trạng thái IIa: Công thức tổ thành tầng cây gỗ: $11,4\text{Trt} + 9,8\text{Vth} + 7,15\text{Kh} + 6,25\text{Sph} + 5,8\text{D} + 43,7\text{Lk}$ (gồm Trẹo tía, Vối thuốc, Kháo, Sồi phảng, Dẻ gai...). Tầng thảm tươi gồm Dương xỉ, Sa nhân, Quyển bá, Ráy, Nưa, Dây hương, Ngót leo, Củ mài, Giảo cổ lam.
- Trạng thái IIb: Công thức tổ thành: $10,2\text{Khn} + 9,4\text{Tr} + 7,3\text{Tg} + 5,1\text{D} + 40,2\text{Lk}$ (Kháo vòng, Trám chim, Tông dù, Dẻ gai...). Cây bụi gồm Mật sạ, Bồ cu vẽ, Bòn bọt, Cỏ Lào, Lấu, Sói rừng, Quýt rừng.
- Trạng thái IIIa1: Công thức tổ thành: $10,3\text{Mt} + 7,5\text{Mtr} + 6,6\text{Dx} + 5,4\text{Sg} + 5,3\text{S} + 51,9\text{Lk}$ (Mạy tèo, Thị đá, Sảng, Dẻ xanh, Sấu...). Thảm tươi có Sa nhân, Bóng nước, Dây vác, Rau dớn, Lá lốt, Dây hương, Dây Tầm phong.
4. Hiện trạng khai thác, sử dụng và giải pháp đề xuất
- Kinh nghiệm địa phương: Người dân thu hái 8 loài rau/thuốc rừng chính (Rau dớn, Giảo cổ lam, Chuối rừng, Trám chim, Me rừng, Củ mài, Tre/Mai, Riềng). Giảo cổ lam 7 lá được khai thác nhiều từ tháng 3 đến tháng 10 làm rau ăn và bán dược liệu tại chợ với giá 5.000 đồng/mớ (tương đương khoảng 20.000 đồng/kg), trong khi loài 5 lá ít dùng làm rau hơn mà chủ yếu làm thuốc. Phương thức khai thác còn thô sơ (nhổ cả thân cây), chưa có ý thức bảo vệ và chưa được gây trồng nhân tạo.
- Giải pháp của tác giả:
- Kỹ thuật: Thu hái hạt giống vào mùa thu để gieo ươm; cắt hom cành từ thân bánh tẻ cây mẹ để giâm hom trồng dưới tán rừng, khe núi đá vôi hoặc trồng xen trên nương bãi có đá lộ đầu; áp dụng biện pháp cắt tỉa cành để tăng số lượng nhánh cấp 1; ban hành quy định thu hoạch đúng mùa vụ sinh trưởng, nghiêm cấm nhổ tận gốc.
- Kinh tế - Chính sách: Chính quyền địa phương cần xây dựng hương ước quản lý mùa vụ khai thác; hỗ trợ vốn vay ưu đãi, cung ứng vật tư và mở lớp tập huấn kỹ thuật; thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm; lồng ghép tuyên truyền bảo tồn thông qua Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và trường học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực của một khóa luận đại học, tác giả chưa tiến hành các thí nghiệm thực tế tại vườn ươm về tỷ lệ nảy mầm của hạt và tỷ lệ ra rễ/sống sót của cành giâm hom Giảo cổ lam; chưa tiến hành định lượng sinh hóa hàm lượng saponin và flavonoid tổng số của các mẫu thu thập tại các đai cao và trạng thái rừng khác nhau tại xã Bộc Bố.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khảo nghiệm hoàn thiện quy trình nhân giống vô tính (giâm hom cành) và hữu tính (gieo hạt) quy mô vườn ươm.
- Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm bán tự nhiên Giảo cổ lam 5 lá và 7 lá dưới tán rừng tự nhiên và nương bãi đá vôi tại huyện Pắc Nặm.
- Nghiên cứu biến động hàm lượng hoạt chất dược liệu theo mùa thu hái và lập địa nhằm xác định thời điểm thu hoạch tối ưu.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật, Dược liệu học.
- Cán bộ kỹ thuật trạm Khuyến nông - Khuyến lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ/đặc dụng tại các tỉnh miền núi phía Bắc (Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang...).
- Nội dung có giá trị ứng dụng:
- Bộ số liệu định lượng chi tiết về hình thái phân biệt loài Giảo cổ lam 5 lá và 7 lá (G. pentaphyllum và G. pubescens).
- Phương pháp luận kết hợp điều tra lâm sinh định lượng (ô tiêu chuẩn $500\text{ m}^2$, ô dạng bản $25\text{ m}^2$, chỉ số $IV%$, thang Drude) với điều tra xã hội học nông thôn (PRA/RRA).
- Tài liệu thực tiễn định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ gắn với xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào thiểu số.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại khu vực nghiên cứu xã Bộc Bố ghi nhận những loài Giảo cổ lam nào và tần số xuất hiện của chúng ra sao?
Nghiên cứu ghi nhận 2 loài chính thuộc chi Gynostemma: Giảo cổ lam 5 lá chét (Gynostemma pentaphyllum) và Giảo cổ lam 7 lá chét (Gynostemma pubescens). Trong 15 ô tiêu chuẩn điều tra, loài 7 lá xuất hiện ở 10 ô (tỷ lệ 66,7%, phân bố ở độ cao 463–683 m), còn loài 5 lá xuất hiện ở 5 ô (tỷ lệ 33,3%, phân bố ở độ cao dưới 600 m).
2. Làm thế nào để phân biệt hình thái giữa Giảo cổ lam 5 lá và 7 lá theo số liệu của khóa luận?
Loài 5 lá có lá kép chân vịt gồm 5 lá chét nhỏ hơn (kích thước 67–83 mm $\times$ 23–36 mm), màu xanh đậm, gân lá nổi rõ, thân chính ngắn hơn (2,6–4,6 m) nhưng đường kính lớn hơn (3,3–3,6 mm), số cành cấp 1 từ 8–13 cành. Loài 7 lá có 7 lá chét lớn hơn (86–115 mm $\times$ 27–39 mm), màu xanh nhạt, thân mảnh hơn (đường kính 2,3–2,7 mm) nhưng dài hơn (3,1–5,8 m), số cành cấp 1 nhiều hơn (15–21 cành) và có vị đắng đậm hơn.
3. Khả năng sinh trưởng và tái sinh của Giảo cổ lam biến đổi như thế nào theo mùa trong năm?
Cây sinh trưởng mạnh từ tháng 4 đến tháng 10 (mùa mưa, nóng ẩm) với 4–5 đợt sinh trưởng, mạnh nhất vào tháng 5–7. Vào mùa khô lạnh (tháng 11 đến tháng 2), cây ngừng sinh trưởng, loài 5 lá trên núi đá bị khô héo và rụng lụi lá, còn loài 7 lá ở ven suối duy trì qua đông nhờ rễ đốt cắm vào bùn nước. Cả 2 loài tái sinh chủ yếu bằng chồi từ tháng 2–10 và tái sinh bằng hạt vào đầu mùa mưa (tháng 4–6).
4. Cấu trúc tầng cây gỗ nơi Giảo cổ lam phân bố có những loài cây ưu thế nào?
Giảo cổ lam phân bố dưới tán các trạng thái rừng IIa, IIb và IIIa1 với độ tàn che 0,51–0,68. Các loài cây gỗ ưu thế tham gia công thức tổ thành ($IV% > 5%$) bao gồm: Trẹo tía, Vối thuốc, Kháo, Sồi phảng, Dẻ gai (trạng thái IIa); Kháo vòng, Trám chim, Tông dù, Dẻ gai (trạng thái IIb); Mạy tèo, Thị đá, Sảng, Dẻ xanh, Sấu (trạng thái IIIa1).
5. Người dân xã Bộc Bố khai thác và thương mại hóa Giảo cổ lam như thế nào?
Người dân thu hái Giảo cổ lam tự nhiên từ tháng 3 đến tháng 10, chủ yếu là loài 7 lá, bằng cách ngắt ngọn non làm rau ăn hàng ngày hoặc nhổ cả thân đem sơ chế bán cho thương lái/chợ phiên với giá khoảng 5.000 đồng/mớ (tương đương 20.000 đồng/kg). Tại thời điểm nghiên cứu, loài này hoàn toàn chưa được người dân gây trồng có chủ đích.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thanh Tú đã cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm có giá trị khoa học về đặc điểm phân loại, hình thái học, quy luật sinh thái và cấu trúc thảm thực vật đi kèm của hai loài Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum và Gynostemma pubescens) tại xã Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu đã làm rõ khả năng sinh trưởng mạnh vào mùa mưa, đặc tính tái sinh chồi vượt trội và thói quen khai thác tự nhiên của người dân bản địa. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen dược liệu quý trong Sách đỏ Việt Nam và định hướng phát triển mô hình gây trồng lâm sản ngoài gỗ bền vững tại vùng núi phía Bắc.