Đặt vấn đề Giảo cổ lam có danh pháp khoa học là (Gynostemma pentaphyllum) thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), cây đƣợc phân bố ở các khu vực có độ cao từ 200-2.000m trong các khu rừng thƣa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và một số nƣớc châu Á. Ở nƣớc ta, Giảo cổ lam đƣợc tìm thấy tại Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang và một số địa phƣơng khác [2, 3, 4]. Giảo cổ lam là loại thảo dƣợc có những đặc tính quý, trong cây chứa các hợp chất thuộc nhóm flavonoid và nhóm saponin có tác dụng điều hòa huyết áp, tăng cƣờng hệ thống miễn dịch, làm giảm hàm lƣợng colesterol, và nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể [11, 12]. Vì vậy Giảo cổ lam đã đƣợc sử dụng làm rau ăn hay chế biến thành các sản phẩm nhƣ trà.
có tác dụng trong bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con ngƣời. Theo phân tích của các nhà đƣợc học Nhật Bản và Trung Quốc Thành phần hoá học chính của Giảo cổ lam là fiavonoit và saponin. Số saponin của Giảo cổ lam nhiều gấp 3 - 4 lần so với nhân sâm. Trong đó một số có cấu trúc hoá học giống nhƣ cấu trúc có trong nhân sâm (ginsenozit).
Các nhà khoa học tìm đƣợc trong Giảo Cổ Lam chất Saponin rất giống Nhân sâm và có tới hơn 80 loại, Nhân sâm chỉ có hơn 20 loại). Ngoài ra Giảo cổ lam cũng chứa các Vitamin và các chất khác nhƣ Selen, Kèm, Sắt, Mangan, Phốtpho. Giảo cổ lam là loài cây hiện nay đƣợc rất nhiều ngƣời chú ý tới, vì loài cây này đã đƣợc đánh giá có rất nhiều công dụng. Ngoài là nguồn rau sẵn có trong tự nhiên đƣợc ngƣời dân sử dụng nhiều gần nhƣ quanh năm.
Theo Phạm Thanh Kỳ - Chủ nhiệm bộ môn Dƣợc liệu, trƣờng Đại học Dƣợc Hà Nội đây là loài cây có thể đƣợc coi là loại thực phẩm chức năng với rất nhiều công dụng. Đây là một loài dƣợc liệu quý hiếm, có nhiều lợi ích cho sức khỏe Giảo Cố Lam có thể “3 giúp”: c 2 - Giúp ngủ ngon, giúp khỏe mạnh, giúp tiêu hóa, - Giảm mệt, giảm béo, giảm căng thẳng, - Chống viêm, chống u, chống lão hóa. “6 tốt”: Ăn ngon, nhuận tràng, ngủ đƣợc, tăng khả năng làm việc, kéo dài tuổi thanh xuân và mau lại sức. Đƣợc tập trung trong một sản phẩm.
Đây thực sự là món quà quý đƣợc thiên nhiên ban tặng cho bệnh nhân tiểu đƣờng nói chung, đặc biệt đối với những ai quan tâm đến sức khoẻ của chính mình cũng nhƣ sức khỏe cho những ngƣời mình yêu thƣơng. Theo sách đỏ Việt Nam, Giảo cổ lam đã đƣợc xếp trong thang bậc phân hạng IUCN 1994 sách đỏ VN: EN A1a, c, d [dẫn theo tài liệu 7]. Hiện nay, nhu cầu sử dụng làm rau ăn, làm thuốc chữa bệnh và buôn bán ngày càng tăng nên cây Giả cổ lam mọc tự nhiên đã giảm đáng kể, vì vậy thay vì khai thác từ tự nhiên, việc nhân giống và gây trồng Giảo cổ lam là cần thiết. Tuy nhiên, để công tác nhân giống, gây trồng đạt hiệu qủa và năng suất cao thì cần phải xác định vùng phân bố trong tự nhiên, từ đó xác định đƣợc vùng trồng phù hợp cho loài cây này.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái của loài Giảo cổ lam tại xã Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn” là rất cần thiết vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đƣợc một số đặc điểm hình thái, sinh thái của loài Giảm cổ lam tại khu vực nghiên cứu, từ đó làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn loài và gây trồng nhằm xóa đói giảm nghèo cho ngƣời dân tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa trong nghiên cứu * Trong thực tiễn Nhu cầu sử dụng các loại thảo dƣợc để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe hiện nay ngày càng tăng. Mặt khác loài cây này trong tự nhiên dần cạn kiệt, đây là cơ hội để ngƣời dân miền núi sản xuất cây Giảo cổ lam theo hƣớng hàng hóa, cải thiện và phát triển kinh tế hộ gia đình.
* Trong nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung các thông tin về đặc điểm phân bố hình thái của các loài Giảo cổ lam có tại khu vực nghiên cứu làm cơ sở cho công tác bảo tồn và nhân giống gây trồng trong tƣơng lai tại địa phƣơng. Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ xung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, tài liệu tham khảo về cây Giảo cổ lam. c 4 Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Trên thế giới 2.
Nghiên cứu về bảo tồn tài nguyên rừng gắn với cộng đồng địa phương Trên thế giới cộng đồng quốc tế có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lƣợc bảo tồn từ đầu năm 1980. Một chiến lƣợc bảo tồn mới dần đƣợc hình thành và khẳng định tính ƣu việt, đó là liên kết quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và vƣờn quốc gia với các hoạt động sinh kế của các cộng đồng địa phƣơng, cần thiết cho sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dụng các quyết định. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhất là động, thực vật là thành phần chính cấu tạo nên tính đa dạng sinh học trong tự nhiên [dẫn theo tài liệu số 1, 3]. Một dự án thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Phu kheio Wildlife Santuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông Bắc Thái Lan.
Kết quả chỉ ra rằng “Điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển công đồng địa phƣơng bằng các hoạt động thu nhập của họ” [dẫn theo tài liệu số 13]. Nghiên cứu về vai trò và giá trị sử dụng các loài thực vật Tonga Noweg và cộng sự (2003) [dẫn theo tài liệu số 6] nghiên cứu những loài cây làm rau lấy từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vƣờn quốc gia Crocker Range, Sabah, Malaysia cho thấy, có đến 70,6% cộng đồng dân cƣ có lấy các loài cây thuốc và rau từ rừng, 82% phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình, 18% vừa lấy để dùng vừa đem bán ở các chợ địa phƣơng. Wang Guang-Yin và cộng sự (2002) [dẫn theo tài liệu 9] nghiên cứu về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, chỉ ra có tới 91 họ, 226 chi và 415 loài thƣc vật đƣợc sử dụng làm thuốc và rau. c 5 Phân bố địa lý, sự khai thác và cách thức sử dụng đƣợc chỉ ra cùng các đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể làm thuốc và ăn đƣợc, thời gian thu hái và sinh cảnh của chúng cũng đƣợc để cập tới.
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự (1998) [dẫn theo tài liệu 7] đã nghiên cứu phân bố các loài cây làm thuốc và ăn đƣợc ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ đã cho thấy, các loài cây làm thuốc và ăn đƣợc rất phổ biến và đƣợc dân cƣ vùng đã sử dụng thƣờng xuyên, thống kê đƣợc có 52 loài cây thuốc và ăn đƣợc thuộc trong 26 họ. Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5 loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài). Cùng với những nghiên cứu về các loài cây cỏ khác nhau đƣợc sử dụng làm dƣợc liệu thì loài Giảo cổ lam (Thất diệp đởm) và Giảo cổ lam (Ngũ diệp sâm) cũng đã đƣợc công bố trong cuốn tài liệu “Nông chính toàn nhƣ hạch chú” quyền hạ năm 1639 cho thấy Giảo cổ lam là một dƣợc liệu đầu vị quý đƣợc ghi trong sách cổ. Từ xa xƣa đƣợc sử dụng cho vua chúa để tăng sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ và làm đẹp.
Vào năm 1976, khi nghiên cứu một bộ lạc có tuổi thọ bình quân là 98 sống trên vùng núi cao, ngƣời Nhật Bản đã tình cờ phát hiện ra ngƣời dân nơi đây đã dùng Giảo cổ lam chế biến thành trà uống hàng ngày, để tăng cƣờng sức khỏe, ngƣời dân Nhật Bản gọi cây Giảo cổ lam là Phúc âm thảo [dẫn theo tài liệu 18]. Từ đó các nghiên cứu về Giảo cổ lam đƣợc thực hiện nhiều ở các nƣớc trên thế giới, điển hình nhƣ một số quốc gia Trung Quốc, Mỹ, Đức, Ytalia. Có thể liệt kê một số các nghiên cứu điển hình đó nhƣ sau: - Guo, X. Wang, et al.
Ye, et al. (2004) [19] chứng minh Giảo cổ lam là loài cây có tác dụng chống viêm gan, chứng cao huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não, mỡ máu và chống ung thƣ. Có tác dụng chống viêm mạnh hơn Idomethacin. Một nghiên cứu khác của tác giả Samer Magalii, trƣờng đại học Sydney Úc công bố năm 2005 [dẫn theo tài liệu 17] đã khẳng định: Giảo cổ lam có tác dụng làm giảm cholesterol toàn phần, triglyceride, LDL (LDL là một loại cholesterol xấu trong máu, loại cholesterol này làm tăng nguy cơ xuất hiện các mảng xơ vữa động mạch và các bệnh tim mạch nhƣ nhồi máu cơ tim, đột quỵ).
Theo kết quả nghiên cứu này thì sử dụng giảo cổ lam làm giảm lƣợng triglyceride trong máu 85%, cholesterol toàn phần 44% và giảm lƣợng LDL 35%, tác dụng này tƣơng đƣơng với atorvastatin (một loại thuốc đƣợc ƣu tiên lựa chọn cho bệnh nhân rối loạn mỡ máu hiện nay). Giảo cổ lam, một loài dƣợc liệu quý hiếm, xuất hiện trong các tài liệu y học của Nhật Bản từ thế kỷ 17 và đƣợc coi nhƣ một loại thần đƣợc với tên Amachazuru, ở Hàn Quốc với tên gọi dungkulcha và nhiều nƣớc khác. Những ngƣời dân ở vùng núi cao thuộc tỉnh Quý Châu, Trung Quốc thƣờng xuyên uống cây này và nơi họ sống có nhiều ngƣời thƣờng sống trên 100 tuổi [20]. Do những lợi ích to lớn cho sức khỏe, nên ở Trung Quốc và Nhật Bản, Giảo cổ Lam đƣợc bán rất đắt (khoảng 100USD/kg), mức giá này khiến cho việc nhập khẩu dƣợc liệu quý này vào Việt Nam rất hạn chế.
Cơ sở của việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài thực vật rừng Trƣớc đây khi nguồn lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là cây rau còn phong phú, ngƣời ta ít chú ý đến việc bảo tồn nguồn gen của chúng. Đến cuối thế kỷ c 7 XX khi nhận rõ rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ đó trở nên khan hiếm, một số loài đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng nên chúng ta mới bắt đầu chú ý bảo tồn nguồn gen.