Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thư viện công cộng Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thư viện công cộng; Chương 3: Thực trạng chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thư viện công cộng ở Tp. Hồ Chí Minh; Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thư viện công cộng ở Tp. Hồ Chí Minh. 19 NỘI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VE CHÍNH SÁCH UNG DUNG CONG NGHE THONG TIN TRONG HE THONG THU VIEN CONG CONG 1.
CÁC NGHIÊN CUU VE “CHÍNH SÁCH UNG DUNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN” 1. “Chính sách” và “Ứng dụng công nghệ thông tin” Ở trong nước đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về “Chính sách”, “Chính sách công” và “Ứng dụng CNTT”. Tác giả Vũ Cao Đàm đã có một chùm các công trình dé cập đến các khái niệm trên như: ”Quản lý học đại cương” (2008), "Khoa học chính sách/Tuyền tập các công trình đã công bố tập II (nghiên cứu chính sách và chiến lược) (2009) [Vũ Cao Đàm, 1996], “Khoa học Chính sách” (2011) [Vũ Cao Đàm, 2008]; “Lý thuyét hệ thong” (2005) [Vũ Cao Đàm, 2009] và công trình “Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách (2011) của Vũ Cao Đàm cùng nhóm tác giảPhạm Xuân Hằng, Trần Văn Hải, Đào Thanh Trường[Vũ Cao Đàm, 2011]. Trong các công trình đã xác định rất rõ nội hàm các khái niệm, kỹ năng phân tích chính sách, tiếp cận từ các phương pháp xã hội học.
Các công trình đã nghiên cứu khá đầy đủ cơ sở lý luận về khoa học chính sách, kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách. Dé phục vụ cho nghiên cứu Luận án, nghiên cứu sinh kế thừa quan điểm của các tác giả về chính sách tiếp cận lý thuyết hệ thống. Trong các nghiên cứu “Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn xây dựng chính sách ở nước ta” (2002) của Nguyễn Hữu Đông và Nguyễn Minh Quân; “Một số hoạt động xây dựng chính sách nông thôn mới tại tp.HCM”(2002), công bố trong Kỷ yếu “Chính sách và những vấn đề chi phối việc hoạch định chính sách” các tác giả đã đề cập đến nội hàm chính sách và các chính sách có đối tượng tác động cụ thể. Trong công trình của mình, tác giả Nguyễn Hữu Đồng và cộng sự đã có kết luận chính sách theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, tác giả kết luận, chính sách là tong thé các quan điểm, biện pháp mà chủ thé lãnh đạo, quản lý tác động lên đối 20 tượng quan lý nhăm đạt đến một mục tiêu trong một thời gian ấn định. Theo nghĩa hẹp, chính sách là một quy định cụ thể nào đó nhằm thực hiện đường lối, nhiệm vụ trong một thời gian cụ thé [Nguyễn Hữu Đông, Nguyễn Minh Quân, 2002].Tiếp cận loại hình chính sách công, trong nghiên cứu đề tài cấp bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ”Chính sách và những van dé cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách ở Việt Nam” (2002), chủ nhiệm dé tài, tác giả Nguyễn Đăng Thanh đã có kết luận chính sách công là các văn bản được chủ thể ban hành là những người/tô chức năm quyền lực nhà nước, có mục đích và cách thức hành động của những đối tượng được thể chế hóa giải quyết những vấn đề từ thực tiễn yêu cầu[Nguyễn Thị Lan Thanh, 2014].Trong các nghiên cứu như “Chính sách và sự phát triển kinh tế quốc gia: Việt Nam và sự tham gia CPTPP” (2018) của tác giả Phạm Duy Hiếu, Thái Ngọc Sáng: “Chính sách và công cụ phân tích” (2012) của tác giả Nguyễn Minh Thuyết; “Hoạch định và phân tích chính sách công” (2008) của tác giả Nguyễn Hữu Hải;“Xây dựng chính sách thúc đây ƯD CNTT tại các xã vùng sâu, vùng xa” (2014) của Bùi Hồng Hiếu; “Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong việc tạo lập và cung cấp sản phẩm và dịch vụ thông tin tại thư viện Hà Nội” (2019) của Trần Thành Hiếu với các cách tiếp cận khác nhau đã có những định nghĩa khác nhau, tuy nhiên về nội hàm các khái niệm đều cùng bản chất, khi cho rằng chính sách là tập hợp các vấn đề được thể chế hóa do một chủ thê có quyền lực quản lý ban hành tạo môi trường tác động đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu trong định hướng phát triển vào một thời gian nhất định. Theo tác giả Đặng Ngọc Lợi “Chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công và các tài nguyên của đất nước” [Đặng Ngọc Lợi, 2015]. Tác giả Nguyễn Hữu Hải “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thê hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc day xã hội phát triển.
Trong chính sách công lại có những chính sách cụ thé đối với từng lĩnh vực”[Nguyễn Hữu Hai, 2008]. Đồng quan điểm, tác giả Lê Chi Mai 21 cho rằng “Chính sách công có những đặc trưng cơ bản như: chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (Thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những van đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo mục tiêu nhất định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau”[Lê Chi Mai, 2001].Theo tác giả Tạ Ngọc Hải “Chính sách công có tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và luôn gắn cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của một quốc gia nhất định” [Tạ Ngọc Hải, 2014]. Trên thế giới, hiện nay cũng còn nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về khái niệm “Chính sách” và “Chính sách công”, do cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau. Tiếp cận “Chính sách công chỉ là một trường hợp của chính sách”, tác giả James Anderson định nghĩa “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hay nhiều chủ thé trong việc giải quyết các vấn dé mà họ quan tâm” [162].
John Deway xác định “Chính sách là một quá trình giải quyết những vấn dé cả cộng đông bao gồm 05 giai đoạn: cảm nhận tình huống vấn dé; Xác định vấn dé; Hình thành giải pháp và lựa chọn một giải pháp và thực thi[J. Harold Lasswell xác định “Chính sách là một quá trình ra quyết định có tính sáng tạo bao gốm các bước: tranh luận, đưa ra các giải pháp, lựa chọn, thực thi và kết thúc. Tiếp cận về vai trò của chính sách công, B.Guy Peter cho rằng “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đều có anh hưởng đến cuộc sống của mọi công đân ”(B. Ngoài ra còn nhiều hướng tiếp cận khác của các học giả nước ngoài.
Theo Lý thuyết hệ thống, G.DC Leon định nghĩa “Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự dong thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống ”[G.Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài cũng đã đề cập đến nội dung của chính sách. Trong công trình “Policy Theories, Knowledge 22 Utilization, and Evaluation-Lý thuyết chính sách, sử dụng kiến thức và đánh giá” {Emmanuel C.Ibara, 2014] của Frans L.Leeuw đã nhận định “.Ly thuyết chính sách là một dạng của hệ thống xã hội và hành vi gia định, nó được cầu thành bởi các mệnh dé cơ bản trong chính sách công. Những mệnh dé này phản ánh những quyết sách của những người hoạch định chính sách để đáp ứng các mục tiêu đặt ra”. Nghiên cứu ban đầu về các lý thuyết chính sách đã chỉ ra rằng, việc phân tích chính sách có ý nghĩa quan trọng trong mỗi gian đoạn của quy trình chính sách đó là: nhận diện van dé, phát triển các biện pháp chính sách và thực hiện đánh giá chính sách.
Tiếp cận của khoa học về chính trị,Thomas Dye cho rằng chính sách công là sản phâm hoạt động có mục đích của nhà nước “.là tat cả những gì nhà nước chọn làm hoặc không làm ”[T. Tiếp cận Lý thuyết hệ thống, trong công trình “The platform to the main parse-Những nền tảng của phân tích chính sách”, G.DC Leon cho rằng “Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống ”[G. “Phân tích đánh giá chính sách ứng dụng công nghệ thông tin” Ở trong nước, trong công trình “Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách ”[Vũ Cao Dam, Phạm Xuân Hằng, Trần Văn Hải, Đào Thanh Trường, 2011] nhóm tác giả Vũ Cao Đàm, Phạm Xuân Hằng, Trần Văn Hải, Đào Thanh Trường đã phân tích những vấn đề cơ bản về phân tích chính sách, mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước trong vấn đề xây dựng, thực thi chính sách với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, trong đó rõ nét nhất đó là tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu phân tích chính sách. Công trình đã đưa ra lý thuyết về tác nhân và tác động của chính sách là: dương tính, âm tính, ngoại biên, ngoại biên dương tính, ngoại biên âm tính, ngoại biên của ngoại biên, ngoài ra còn có những tác động theo chuỗi bao gồm: tác động trực tiếp, tác động gián tiếp, tác động nối tiếp.Công trình đã phân kỳ trong đánh giá tác động chính sách bao gồm: phân tích trước khi ban hành, phân tích chính sách sau khi ban hành và phân tích ở một thời điểm ngẫu nhiên hoặc sau một số năm thực hiện.
Trong tập bài giảng khoa 23 học chính sách ”[Vũ Cao Dam, 2008] tác giả Vũ Cao Dam đã chỉ rõ nội dung phân tích chính sách gom: phân tích kịch ban, tác động, su phân hóa xã hội do chính sách, phản ứng xã hội đối với chính sách, phân tích vòng đời của chính sách và phân tích nhu cầu sửa đổi hoặc ban hành một chính sách mới. Trong công trình “Nghiên cứu xây dựng phương pháp luận đánh giá tác động chính sách KH&CN phù hợp với Việt Nam và áp dụng đánh gia tác động chính sách tài trợ cho nghiên cứu cơ bản của quỹ phát triển KH&CN quốc gia [Pham Quỳnh Anh, 2016] của tác giả Phạm Quỳnh Anh đã phân tích các nội dung, phương pháp luận về đánh giá tác động chính sách.