Chương 1. Tổng quan HVTH: Võ Văn Nam – Lớp Cao học Cầu hầm K18 Trang 7 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Trần Đức Nhiệm 1. Hiện trạng giao thông đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh và quy hoạch phát triển mạng lưới đường sắt đô thị 1. Tình hình giao thông đô thị 1.
Giao thông đường bộ 1) Mạng lưới đường Mạng lưới giao thông đường bộ thành phố bao gồm các trục quốc lộ do trung ương quản lý và các đường tỉnh, đường liên tỉnh, đường nội đô do thành phố quản lý. Tổng chiều dài đường các cấp hạng khoảng 3000km. Đất dành cho giao thông rất thấp lại không đều trên địa bàn toàn thành phố: Ở các quận thuộc vùng Sài Gòn-Chợ Lớn cũ như quận 1, quận 3, quận 5 diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị đạt khoảng 17,4- 21,4% song cũng chỉ đạt 0,31km/1000 dân do mật độ dân số quá cao. Ở các quận cũ khác như quận 4, quận 6, quận 8, quận 10, quận 11, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị chỉ đạt khoảng 5,2-15,0% ; 0,24 km/1000 dân là quá thấp.
Ở các quận mới như quận 2, quận 7, quận 9, quận 12 và các huyện ngoại thành diện tích đất dành cho giao thông còn thấp hơn nữa chỉ chiếm khoảng 0,2-3,1%, 0,84 km/1000 dân. Tình trạng kỹ thuật của mạng lưới đường trên các khu vực cũng có sự chênh lệch lớn: các đường ở các quận cũ hình thành khá rõ mạng ô bàn cờ thuận lợi cho giao thông, mặt đường thảm nhựa êm thuận, hệ thống thoát nước, chiếu sáng, vỉa hè, cây xanh hoàn chỉnh; các đường ở các quận mới có mặt đường thấp so với mực nước triều, vỉa hè hẹp, không có cây xanh; các đường ở các huyện ngoại thành phần lớn mới chỉ được láng nhựa, tiêu chuẩn hình học thấp. Phần lớn các đường đều hẹp: chỉ có khoảng 14% số đường có lòng đường rộng trên 12m để có thể tổ chức vận chuyển hành khách bằng xe buýt được thuận lợi; 51% số đường có lòng đường rộng từ 7m đến 12m chỉ có thể cho các xe ô tô con trong đó có xe Micro-buýt lưu thông; 35% số đường còn lại có lòng đường rộng dưới 7m chỉ đủ cho xe hai bánh lưu thông. Hệ thống các vành đai đã được hoạch định nhưng hầu hết chưa được xây dựng, các trục hướng tâm đã và đang được cải tạo, nâng cấp tuy nhiên vẫn còn thiếu.
Cấp hạng kỹ thuật và mặt cắt ngang của các tuyến hiện có vẫn chưa đạt yêu cầu quy hoạch. Toàn thành phố có trên 1350 nút giao cắt trong đó có khoảng 120 nút quan trọng thuộc 75 đường phố chính và các trục giao thông đối ngoại nhưng đều HVTH: Võ Văn Nam – Lớp Cao học Cầu hầm K18 Trang 8 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Trần Đức Nhiệm là giao cắt đồng mức; năng lực thông qua của các nút thấp. Hiện chỉ có 9 nút đang được xây dựng là nút giao khác mức. 2) Hệ thống bến bãi đỗ xe Hệ thống bến-bãi đỗ xe ở thành phố Hồ Chí Minh gồm có: 5 bến xe ô tô liên tỉnh chính: bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe Chợ Lớn, bến xe Ngã 4 Ga và bến xe Quận 8 với tổng diện tích khoảng 15,08 ha, công suất phục vụ 27,9 triệu hành khách/năm; 1 bến xe buýt chính bố trí ở khu vực chợ Bến Thành với diện tích 0,22 ha và các điểm đầu cuối tuyến nằm trong các bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe Chợ Lớn, bến xe An Sương, khuôn viên trường Đại học Nông Lâm - Thủ Đức, các khu vui chơi giải trí Đầm Sen, Suối Tiên.
3 bãi đỗ xe tải bố trí ở vành đai 2 với tổng diện tích 3,8 ha, trong đó có 1 bãi đậu xe sẽ chuyển công năng; 7 bãi đỗ xe taxi với tổng diện tích khoảng 3,2 ha; 6 bến kỹ thuật dành cho xe buýt với tổng diện tích khoảng 8 ha ở quận Gò Vấp, quận Tân Bình, quận 11, huyện Hóc Môn. Nhìn chung, số lượng và diện tích bến - bãi còn ít chỉ chiếm khoảng 0,1% diện tích đô thị. Các bến xe liên tỉnh do tập trung ở trong nội đô, có vị trí không phù hợp, bị hạn chế về mặt bằng nên làm phức tạp thêm cho giao thông đô thị; hệ thống bến-bãi chuyên nghiệp chưa hình thành. Giao thông đường sắt 1) Mạng lưới đường Tại thành phố Hồ Chí Minh hiện chỉ có một tuyến đường sắt quốc gia Bắc- Nam vào đến ga Sài Gòn (tại Hòa Hưng).
Trong khi trước đây thời pháp thuộc có 4 tuyến đường sắt vào thành phố: Sài Gòn - Hà Nội, Sài Gòn - Mỹ Tho, Sài Gòn - Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh và Sài Gòn – GòVấp - Hóc Môn với ga trung tâm là ga Sài Gòn cũ (trước chợ Bến Thành); ngoài ra còn có 2 tuyến chuyên dụng nối ray tới cảng Sài Gòn và Tân Cảng. Tuyến đường sắt quốc gia Bắc - Nam vào thành phố giao cắt cùng mức với 14 đường phố gây ra ùn tắc và mất an toàn giao thông. 2) Thiết bị thông tin tín hiệu và cơ sở bảo dưỡng đầu máy toa xe Thiết bị thông tin đang được hiện đại hóa thay dây trần bằng cáp quang, tổng đài kỹ thuật số. Thiết bị tín hiệu trong ga được trang bị loại ghi hộp khóa HVTH: Võ Văn Nam – Lớp Cao học Cầu hầm K18 Trang 9 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Trần Đức Nhiệm điện, đài khống chế tín hiệu đèn mầu.
Thiết bị tín hiệu khu gian dùng loại đóng đường bán tự động. Nhà máy toa xe Dĩ An là nơi đại tu và sản xuất toa xe khách và hàng. Chí Hòa là ga khách kỹ thuật phục vụ cho ga khách Sài Gòn. Trong đó, xí nghiệp đầu máy Sài Gòn là nơi vận dụng, bảo trì đầu máy diesel tàu khách, tàu hàng, xí nghiệp toa xe khách Sài Gòn là nơi vận dụng và bảo trì toa xe khách, do mặt bằng chật hẹp nên phải sử dụng cả ga Sài Gòn để chứa xe 3) Vận chuyển hành khách đô thị bằng đường sắt Đường sắt là phương thức vận chuyển khối lượng lớn, trước giải phóng đã từng chở công nhân đi làm tại các đô thị vệ tinh liền kề (khu công nghiệp Biên Hòa).
Hiện nay, dịch vụ này không được thực hiện vì những nguyên nhân sau: Đường sắt khu vực thành phố Hồ Chí Minh chưa tạo thành mạng; Chỉ có một tuyến đường sắt quốc gia Bắc - Nam còn các tuyến đường sắt cũ nối ra các đô thị vệ tinh như Sài Gòn - Mỹ Tho, Sài Gòn - Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh và Sài Gòn – Gò Vấp - Hóc Môn được xây dựng thời pháp thuộc bị phá hủy trong thời gian chiến tranh đến nay vẫn chưa được khôi phục. Tuyến đường sắt quốc gia Bắc-Nam vẫn chỉ là đường đơn; đoạn trong nội thành bị giao cắt cùng mức với 14 đường phố tạo ra sự xung đột nguy hiểm với giao thông đường phố khi chạy tàu với tần xuất cao; Trong ga đều là ke khách thấp lên xuống tàu khó khăn, thời gian bị kéo dài; Chưa có toa xe thích hợp với việc vận chuyển khách đô thị; Cự ly giữa các ga, trạm khách quá dài, không thuận tiện cho vận chuyển khách đô thị; Để chạy tàu nội-ngoại ô, cần bố trí trong nội thành khoảng 1- 2 km/trạm khách; ở ngoại thành khoảng 2-3km/trạm; Hệ thống bán và soát vé chưa phù hợp: chưa trang bị máy bán vé tự động, chưa bán vé tháng, soát vé rườm rà; Chưa nối mạng xe buýt ở các ga đầu, cuối để tổ chức vận chuyển khách “từ cửa đến cửa” nên chưa thu hút được khách. Hệ thống vận tải công cộng 1) Vai trò hiện tại của vận tải công cộng Tính đến tháng 12/2004 thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 253 ngàn xe ô tô các loại với mức gia tăng 14,5%/năm; khoảng 2,4 triệu xe máy với mức gia tăng khoảng 5,4%/năm; hơn 1 triệu xe đạp. cơ cấu đi lại hiện nay ở thành phố HVTH: Võ Văn Nam – Lớp Cao học Cầu hầm K18 Trang 10 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Trần Đức Nhiệm Hồ Chí Minh như sau: phương tiện công cộng khoảng 3,2%, 96,8% còn lại là dùng phương tiện cá nhân trong đó chủ yếu là xe 2 bánh.
Dân số thành phố năm 2004 là 6,1 triệu dân (chưa kể khách vãng lai) nhưng hiện chưa có giao thông bánh sắt đô thị. Năm 1976 toàn thành phố có khoảng 1000 xe buýt các loại đáp ứng 10% nhu cầu đi lại cho khoảng 3 triệu dân thành phố lúc đó. Năm 2004 toàn thành phố có 2840 xe buýt các loại song chỉ đáp ứng 3,2% nhu cầu đi lại. Điều này phản ánh sự suy giảm nghiêm trọng của vận tải hành khách công cộng.
Nguyên nhân chủ yếu là do kết cấu hạ tầng không theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội và vận tải hành khách công cộng chưa được quan tâm một cách đúng mức. 2) Về quản lý, điều hành mạng xe buýt Mạng xe buýt hiện nay do 1 doanh nghiệp nhà nước (21% số xe), 1 doanh nghiệp liên doanh (2% số xe), 2 công ty TNHH (3% số xe) và 29 hợp tác xã (74% số xe) quản lý, điều hành. Các doanh nghiệp này hoạt động dưới sự giám sát của trung tâm quản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng thuộc sở Giao thông công chính. Nhìn chung cách quản lý này chưa gắn chặt lợi nhuận kinh doanh với trách nhiệm phục vụ của doanh nghiệp cũng như chưa tạo được một cơ chế phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp với nhau.
3) Về mạng lưới xe buýt Hệ thống xe buýt hiện chưa hình thành mạng liên hoàn, hầu hết các tuyến hoạt động đơn độc. Vì vậy, việc chuyển tuyến gây bất tiện cho hành khách. Cuối năm 2004 toàn thành phố có 144 tuyến xe buýt (gồm các tuyến xe buýt thử nghiệm, xe buýt thường, các tuyến đưa rước công nhân, học sinh, sinh viên) với tổng chiều dài các tuyến là 2.793 km, chiều dài bình quân của tuyến là 19,4 km. Nếu so với diện tích toàn thành phố là 2095 km2, mật độ tuyến là 1,3 km/km2; so với diện tích nội đô (là 494 km2 ) của 19 quận hiện nay thì mật độ mạng đạt trên 5 km/km2, cao hơn so với tiêu chuẩn để mạng xe buýt hoạt động có hiệu quả là 4 km/km2.
Chỉ số phủ mạng xe buýt (chỉ tính các đường có lòng đường rộng từ 7m trở lên) là 1,15 km/km cho thấy có nhiều sự trùng lặp tuyến.