CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH (FINTECH) VÀ VIỆC ỨNG DỤNG FINTECH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4. Tổng quan về công nghệ tài chính 1. Định nghĩa về công nghệ tài chính và quá trình phát triển FinTech là viết tắt của cụm từ financial technology (công nghệ tài chính), được hiểu theo nghĩa là việc áp dụng các công nghệ đổi mới, sáng tạo và hiện đại cho lĩnh vực tài chính (bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, dịch vụ thanh toán và các cơ sở hạ tầng tài chính.), nhằm mang tới cho khách hàng các giải pháp, dịch vụ tài chính minh bạch, hiệu quả và thuận tiện với chi phí thấp hơn so với các dịch vụ tài chính truyền thống.
FinTech là một phân khúc năng động tại điểm giao cắt của ngành dịch vụ tài chính và công nghệ, nơi những công ty công nghệ mới thành lập và những thành phần mới tham gia thị trường đang nỗ lực phát triển các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo cho người tiêu dùng, trong khi dịch vụ tài chính truyền thống (ngân hàng) không thể vươn tới. Trên thực tế, FinTech đã và đang có những ảnh hưởng nhất định vào chuỗi giá trị truyền thống của các tổ chức tài chính trên toàn cầu. Mặc dù thuật ngữ FinTech mới xuất hiện và trở nên quen thuộc trong một vài năm trở lại đây, tuy nhiên nếu xét về bản chất của thuật ngữ là ứng dụng công nghệ để thay đổi dịch vụ tài chính này thì Fintech đã xuất hiện từ cách đây hơn một thế kỷ. Lịch sử hình thành Fintech được đánh dấu vào năm 1865 khi Giovanni Caselli phát minh ra công nghệ pantelegraph để xác minh chữ ký trong giao dịch ngân hàng và được áp dụng tại Paris và Lyon.
Từ đó đến nay, Fintech đã có sự phát triển khá nhanh thông qua các dấu mốc lịch sử như sau: Luan van 8 Bảng 1.1- Lịch sử hình thành Fintech 1950 Thẻ tín dụng đầu tiên trên thế giới được ra mứt bởi Diners Club 1960 Hệ thống điện tử QuoTron ra mắt với chức năng cung cấp thông tin thị trường chứng khoán cho các nhà môi giới thông qua các thiết bị máy tính 1966 Mạng lưới viễn thông toàn cầu cung cấp thông tin liên lạc cho hoạt động ngân hàng đi vào hoạt động 1967 Ngân hàng Barclays ra mắt máy ATM đầu tiên trên thế giới với tên gọi là “Thu ngân tự động” cho phép khách hàng rút tiền bất ký thời điểm nào trong ngày 1970 Trung tâm bù trừ thanh toán liên ngân hàng được thiết lập để truyền lệnh và thanh toán với đồng đô la Mỹ cho một số ngân hàng lớn trên thế giới 1971 Nasdaq – sàn giao dịch chứng khoán Mỹ được thành lập, sàn giao dịch chứng khoán điện tử đầu tiên được thiết lập 1973 Hệ thống SWIFT ra đời giúp giải quyết vấn đề cho các giao dịch xuyên biên giới 1982 Môi giới chứng khoán online được giới thiệu trên thị trường bởi các nhà đầu tư cá nhân 1983 Dịch vụ ngân hàng điện tử đầu tiên được ra mắt bởi hiệp hội cho vay mua nhà Nottingham (Anh) 1984 Sàn thương mại điện tử đầu tiên trên thế giới ra đời tại Mỹ 1987 Ngày thứ 2 đen tối của thị trường chứng khoán diễn ra trên phạm vi toàn cầu bởi tác động của công nghệ 1993 Thuật ngữ Fintech được chính thức sử dụng bởi Citigroup, đồng thời Citigroup thành lập trung tâm nghiên cứu fintech 1988 Dịch vụ ngân hàng điện tử được cung cấp bởi hầu hết các ngân hàng tại Mỹ 2009 Phiên bản đầu tiên của tiền ảo Bitcoin và công nghệ Blockchain ra đời 2011 Ví điện tử của Google ra mắt, cho phép khách hàng sử dụng điện thoại thông minh thực hiện thanh toán bằng công nghệ mạng tương tác gần 2015 Các ứng dụng công nghệ trong tài chính ra đời giúp thay thế các hoạt động tài chính truyền thống Nguồn: Georgetown Journal of International Law (2015) Luan van 9 Fintech là sự giao thoa giữa tài chính và công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ trong lĩnh vực tài chính như dữ liệu lớn, Blockchain, tư vấn tự động, cho vay ngang hàng… cho thấy Fintech đóng một vai trò quan trọng tới không chỉ hệ thống tài chính mà còn có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ xã hội. Hiện tại, Fintech đã mở rộng bao gồm bất kỳ sự đổi mới công nghệ trong lĩnh vực tài chính, gồm cả những đổi mới về giáo dục và đào tạo về tài chính, ngân hàng bán lẻ, đầu tư, các loại tiền tệ như Bitcoin, sổ cái điện tử, ví điện tử, robot tư vấn, công nghệ dữ liệu lớn, các phần mềm quản lý tài chính… Theo báo cáo năm 2016 về hoạt động của Fintech trên toàn cầu của SparkLabs Global Ventures, các công ty Fintech trên thế giới hiện đang cung cấp các dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ ngân hàng, thanh toán, tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân, các loại tiền kỹ thuật số, các dịch vụ thay thế dịch vụ lõi của hệ thống tài chính - ngân hàng (alternative cores)… với các sản phẩm/dịch vụ công nghệ đa dạng như ví điện tử, công nghệ sổ cái phân tán (DLT) trên nền tảng blockchain, thương mại trực tuyến B2C, mPOS… (xem Bảng 1.2 – Một số sản phẩm, dịch vụ chính do Fintech cung ứng STT Loại hình hoạt động Một số sản phẩm dịch vụ chính 1 Công nghệ ngân hàng - Công cụ phân tích số liệu (Analytics) - Quản lý dữ liệu - Quản lý quan hệ khách hàng - An toàn, bảo mật 2 Thanh toán - Thương mại trực tuyến B2C - Thiết bị chấp nhận thẻ/ví di động - Chuyển tiền ngang hàng (P2P money transfer) - Các giải pháp về thanh toán 3 Tiền kỹ thuật số - Công nghệ blockchain - Bitcoin - Ví kỹ thuật số (digital wallets) - Các sàn giao dịch tiền kỹ thuật số Luan van 10 4 Tài chính doanh - Cho vay hàng ngang giữa doanh nghiệp (P2P nghiệp Business Lending) - Cấp hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp - Gọi vốn (crowfunding) 5 Tài chính cá nhân - Cho vay tiêu dùng hàng ngang (P2P Consumer Lending) - Dịch vụ tư vấn tài chính tự động (Robo Advisors) - Quản lý tài chính cá nhân (Personal Finance Management) - Cho vay trả góp - Xếp hạng tín dụng 6 Các dịch vụ thay thế - Bảo hiểm sức khỏe/ô tô/tài sản thay thế dịch vụ lõi - Ngân hàng kỹ thuật số Nguồn: Fintech Industry Overview, SparkLabs Global Venture (2016) Trong lĩnh vực ngân hàng, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty Fintech những năm trở lại đây, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán và cho vay, cũng là một vấn đề được nhiều ngân hàng thực sự quan tâm. Tuy nhiên, công ty Fintech và ngân hàng đều có những ưu điểm riêng biệt mà cả hai bên đều có thể khai thác lẫn nhau. Đối với các công ty Fintech, việc tự do sử dụng những công nghệ hiện đại nhất để xây dựng các giao diện thân thiện với người sử dụng là một trong những thế mạnh nổi trội.
Các công ty Fintech không sở hữu các cơ sở hạ tầng thị trường tài chính cơ bản, do đó, mục tiêu của họ là giúp người sử dụng có trải nghiệm tốt hơn những dịch vụ hiện có của ngân hàng. Các công ty này, cũng làm tốt hơn các ngân hàng trong việc nắm bắt các giá trị cốt lõi của khách hàng từ lượng dữ liệu lớn nhằm cung cấp những dịch vụ tốt hơn, nhanh hơn (chẳng hạn như trong lĩnh vực cho vay). Ngược lại, với các công ty Fintech, các ngân hàng vẫn giữ được những lợi thế cạnh tranh nhất định, đó là những mối quan hệ từ lâu với khách hàng, hành lang pháp lý quy định cụ thể, chặt chẽ, kinh nghiệm trong quản trị rủi ro và sự kết nối liên thông với hạ tầng thị trường tài chính trong nước và quốc tế. Điều quan trọng Luan van 11 hơn cả là việc họ có am hiểu sâu sắc với hạ tầng tài chính hiện hành để có thể cung cấp các dịch vụ tài chính tới khách hàng một cách toàn diện, đầy đủ nhất.
Do thế mạnh của các công ty Fintech là điểm yếu của các ngân hàng và ngược lại, nên ngày nay, ngân hàng và các công ty Fintech đều hướng tới việc hợp tác trong triển khai cung ứng các dịch vụ tài chính nhằm tận dụng tốt nhất những lợi thế mà bên đối tác có được. Việc hợp tác này hiện là xu hướng nổi trội trên toàn thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều hướng tới một mục tiêu chung là mang lại những dịch vụ tài chính và trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng (xem Biểu đồ 1.1 – Các phương thức kết hợp giữa công ty Fintech và ngân hàng Nguồn: Medium.com (2017) Theo báo cáo của SparkLabs, hiện nay, thanh toán vẫn đang là một trong những lĩnh vực được các công ty Fintech đặc biệt chú trọng do việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực này mang lại rất nhiều lợi ích cho người tiêu dùng. Trong năm 2015, lượng giao dịch thanh toán kỹ thuật số chiếm tỷ trọng rất lớn (93,6%) so với các lĩnh vực khác như tài chính doanh nghiệp và tài chính cá nhân. Tuy nhiên, báo cáo cũng dự báo rằng trong những năm tới, các giao dịch Fintech trong mảng thanh toán sẽ có chiều hướng giảm đi, nhường chỗ cho các dịch vụ khác thuộc lĩnh vực tài Luan van 12 chính cá nhân và tài chính doanh nghiệp như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, đầu tư tự động.3–Lượng giao dịch toàn cầu của các giao dịch kỹ thuật số 2015 2020 Thanh toán trực tuyến 93,6% 65,3% Thanh toán quỹ thuật số Thanh toán mPOS 1,0% 13,2% Chuyển tiền trực tuyến P2P 1,2% 2,6% Nền tảng cho vay doanh nghiệp 0,9% 6,8% Tài chính Gọi vốn 0,1% 0,4% doanh nghiệp Nền tảng sản xuất 0,1% 0,4% Dịch vụ đầu tư tự động 2,7% 8,3% Tài chính cá nhân Nền tảng cho vay cá nhân 0,5% 3,0% Nguồn: Statista (2015) 1.
Vai trò của công nghệ tài chính Sự phát triển, tiến bộ của công nghệ từ cuộc CMCN 4.0 đã và đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ tài chính - ngân hàng. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, cách thức tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên đơn giản hơn với chi phí thấp hơn; dòng vốn dịch chuyển giữa các khu vực địa lý từ phạm vi trong một quốc gia tới giữa các quốc gia, giữa các châu lục dễ dàng hơn.