CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 1. Khái niệm Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt.
Tác giả Đặng Công Hoàn (2015) cho rằng: “TTKDTM là một hoạt động dịch vụ thanh toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phương thức thanh toán để bù trừ tiền từ tài khoản/hạn mức tiền của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc được bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo cách hiểu của tác giả Nguyễn Hoài Linh (2018): “Dịch vụ TTKDTM là loại hình dịch vụ được các ngân hàng thương mại cung cấp để khách hàng thanh toán hàng hóa và dịch vụ qua tài khoản của khách hàng mở tại ngân hàng mà không sử dụng đến tiền mặt”. Các quan điểm trên cho thấy thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động của tiền tệ, do ngân hàng cung ứng với vai trò đáp ứng nhu cầu thanh toán, thu hộ, chi hộ, chuyển tiền. của khách hàng mà không dùng đến tiền mặt.
Theo quan điểm của cơ quan QLNN quy định tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/11/2012 đưa ra cách nhìn: “Dịch vụ TTKDTM là dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng và một số dịch vụ khác thực hiện thanh toán không qua tài khoản ngân hàng”. Như vậy, có thể hiểu, dịch vụ TTKDTM là hình thức thanh toán sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa không có sự tham gia của tiền mặt mà được thực 9 hiện thông qua việc trích tiền từ tài khoản của bên chi trả sang tài khoản của bên thụ hưởng hoặc bằng cách thực hiện thanh toán bù trừ với sự tham gia của bên thứ ba trung gian là các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Đặc điểm Bản chất của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt là một loại hình dịch vụ nên nó mang các đặc trưng cơ bản của một loại dịch vụ: (1) Tính không thể tách rời: tức là quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời. Trong hoạt động TTKDTM cần phải có sự kết hợp giữa các chủ thể tham gia thì mới có thể tiến hành phương thức thanh toán này.
(2) Tính không đồng nhất: tức là không có một chất lượng đồng nhất. Luôn luôn tồn tại sự khác biệt về chất lượng của các dịch vụ giữa những loại hình thanh toán không dùng tiền mặt khác nhau. (3) Tính vô hình: tức là trước khi tiêu dùng không thể nhìn rõ hay thấy trước vì không có hình hài. Vì thế, khách hàng cũng rất khó hình dung, khó đánh giá được chất lượng nếu chưa từng trải nghiệm qua sản phẩm nên sản phẩm sẽ khó thu hút và thay đổi các thói quen của những người e ngại thử cái mới.
Vai trò Đẩy mạnh phát triển TTKDTM chính là một nấc thang mới của hoạt động thanh toán, nó đem lại nhiều lợi ích vượt trội cho cả nền kinh tế cũng như từng chủ thể tham gia. Với nhiều ưu điểm vượt trội như: tính an toàn, tiện lợi, gọn nhẹ, nhanh chóng phương thức TTKDTM đang ngày càng được ưu chuộng và sử dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Lợi ích cơ bản về dịch vụ TTKDTM thể hiện qua các phương diện: - Đối với khách hàng: Thông qua việc sử dụng hình thức TTKDTM, các TCTD cung cấp cho khách hàng một cách thức thanh toán tiện dụng và có độ an toàn bảo mật cao. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, độ bảo mật của dịch vụ thanh toán ngày một nâng lên, điều này có nghĩa là các khách hàng có 10 thể yên tâm hơn về tiền trong tài khoản.
Hơn nữa, khi những cơ sở chấp nhận hình thức TTKDTM ngày càng nhiều, hệ thống máy ATM được lắp đặt nhiều hơn với chất lượng dịch vụ ngày càng được chú trọng, hình thức thanh toán này sẽ trở thành một công cụ thanh toán lí tưởng cho khách hàng. Thông qua một số hình thức TTKDTM khách hàng được ngân hàng tạo điều kiện mở rộng khả năng thanh toán bằng việc mở tài khoản và cấp vốn trước không tính bất kỳ khoản lãi nào để thực hiện các hoạt động thanh toán hàng hóa dịch vụ. Bên cạnh đó tài khoản của khách hàng nếu có số dư không sử dụng thì được hưởng mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Trong quá trình khách hàng sử dụng dịch TTKDTM để thanh toán không phải đem theo những khoản tiền mặt lớn dẫn tới rủi ro bị mất mát cũng như không phải mất công bảo quản phức tạp.
Trong trường hợp đi nước ngoài việc thanh toán rất tiện lợi tránh phải đổi tiền mặt ra đồng ngoại tệ. Việc thanh toán quốc tế đảm bảo khả năng chi tiêu nhiều loại ngoại tệ, không bị lệ thuộc vào đồng ngoại tệ của bất kỳ quốc gia nào. Giúp cho người dân có thể thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận tiện cho những giao dịch với giá trị cao, xa về mặt không gian địa lý mà lại đảm bảo được tính an toàn, không bị mất trộm, cướp giật. + Đối với ngân hàng thương mại TTKDTM tạo điều kiện cho các NHTM có thể mở rộng nghiệp vụ kinh doanh, tăng thêm nhiều kênh huy động nguồn vốn.
Khách hàng mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng có thể là các cá nhân hay doanh nghiệp đều mang lại cho ngân hàng nguồn vốn lớn để cho vay và đầu tư. Nguồn vốn kinh doanh từ kênh huy động này có mức lãi suất thấp bằng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn nên tạo điều kiện phát triển hoạt động cho vay. Hơn nữa, thông qua việc nắm bắt hoạt động thanh toán tiền hàng hóa, vật tư của khách hàng ngân hàng sẽ nắm rõ tình hình đặc điểm kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng, hạn chế được rủi ro khi cho đối tượng này vay vốn. Việc kiểm soát được một 11 phần lượng vốn của khách hàng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng kiểm soát lượng tiền lưu thông, làm căn cứ để nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế, kiềm chế lạm phát khi cung ứng lượng tiền thích hợp cho nền kinh tế.
Ngân hàng cung cấp dịch vụ TTKDTM sẽ tạo ra nguồn thu ổn định từ các khoản phí: phí duy trì tài khoản, phí SMS, phí rút tiền, phí chuyển khoản, phí chiết khẩu thương mại… Ngân hàng có điều kiện mở rộng địa bàn hoạt động thông qua hệ thống các máy ATM, thông qua sự chấp nhận thanh toán của các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ. Điều này có ý nghĩa lớn và mang lại lợi ích cho ngân hàng trong việc tiết kiệm khoản chi phí mở thêm chi nhánh nhưng vẫn đảm bảo mở rộng địa bàn hoạt động, tăng trưởng thị phần. + Đối với nền kinh tế Dịch vụ TTKDTM phát triển sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hình thức buôn bán thông qua thương mại điện tử và các giao dịch thương mại truyền thống. Với những chủ thể giao dịch cách xa nhau, việc bên mua thanh toán cho bên bán sẽ thuận tiện, nhanh chóng hơn và nhờ vậy có thể nhận được hàng trong khoảng thời gian ngắn hơn, giảm được thời gian giao dịch và hoạt động kinh doanh có chất lượng tốt hơn.
Quan trọng hơn, chính việc dịch chuyển tới một nền kinh tế phi tiền mặt sẽ làm giảm thiểu các loại chi phí liên quan đến tiền mặt phát sinh trong quá trình thanh toán để mua bán hàng hoá dịch vụ. TTKDTM sẽ góp phần tăng nguồn thu NSNN từ thuế. Hoạt động TTKDTM đã giúp làm tăng thu của Nhà nước từ thuế, gia tăng lượng giá trị tiền gửi, đặt nền móng cho một thời kỳ phát triển hoàn toàn mới của ngành tài chính. Chính hoạt động mở rộng việc sử dụng TTKDTM sẽ làm giảm nguy cơ những đơn vị kinh doanh, doanh nghiệp không khai báo doanh thu để trốn thuế, vì vậy sẽ góp phần làm tăng cả về số lượng người nộp thuế lẫn tăng phần thu nhập từ thuế của chính phủ.
12 Các dịch vụ TTKDTM sử dụng tài khoản ngân hàng trong quá trình thanh toán nên sẽ hạn chế được những giao dịch bất hợp pháp bằng việc minh bạch hoá các khoản thanh toán từ đó là nền tảng cho việc minh bạch hoá nền kinh tế. Một nền kinh tế phi tiền mặt sẽ giúp giảm thiểu vấn nạn tham nhũng dưới hình thức rửa tiền, giảm tỷ lệ trộm cắp tiền mặt cũng như các hành vi gian lận khác. Điều đó sẽ giúp làm tăng thu cho NSNN thông qua việc làm giảm thiểu các hoạt động kinh tế ngầm. Ngoài ra sẽ hỗ trợ các cơ quan quản lý Nhà nước nhanh chóng phát hiện ra các hành động có tính chất rửa tiền hoặc những nguồn tiền phục vụ cho mục đích phi pháp.
Những khoản chi tiêu, giao dịch thanh toán của nhân dân được thực hiện qua hệ thống ngân hàng sẽ giúp Nhà nước quản lý và kiểm soát dễ dàng hơn. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 1. Thanh toán bằng séc Séc là chứng từ được in sẵn làm phương tiện thanh toán do người ký phát lập và lệnh cho bên thực hiện việc thanh toán trả không điều kiện một khoản tiền nhất định cho bên được thụ hưởng. Người phát hành séc sử dụng séc như lệnh trả tiền để thực hiện việc thanh toán cho bên được thụ hưởng.
Trong khoảng thời gian tờ séc còn hiệu lực thanh toán, bên phát hành séc có trách nhiệm và nghĩa vụ phải thanh toán cho bên được thụ hưởng số tiền ghi trên tờ séc. Khoản thanh toán này được thực hiện ngay khi tờ séc được nộp vào Ngân hàng. Đây là hình thức thanh toán được áp dụng cho cả tổ chức và cá nhân. Chủ thể tham gia thanh toán séc bao gồm: người phát hành, người thụ hưởng và ngân hàng.
Người phát hành và người thụ hưởng phải có tài khoản mở tại ngân hàng và mỗi chủ thể tham gia hình thức thanh toán bằng séc đều có những nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi nhất định. Nguyên tắc đối với thanh toán séc là bên phát hành séc chỉ được quyền phát hành trong phạm vi số dư tài khoản của mình, nếu phát hành séc vượt số dư sẽ chịu chí phí phạt. 13 Séc gồm có ba loại: séc chuyển khoản, séc tiền mặt và séc bảo chi.