Chương I: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ ATM của ngân hàng thương mại Chương 2: Mô hình và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - Nghiên cứu của Parasuraman (1985) chất lượng dịch vụ không thé xác định chung chung mà phụ thuộc vào cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ đó và sự cảm nhận này được xem xét trên nhiều yếu tố. Mô hình Servqual được xây dựng dựa trên quan điểm chất lượng dịch vụ cảm nhận là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng, mong đợi (expectation) và các giá trị khách hàng cảm nhận được (perception). Servqual xem xét hai khía cạnh chủ yếu của chất lượng dịch vụ là kết quả dịch vụ (outcome) và cung cấp dịch vụ (process) được nghiên cứu thông qua hai mươi hai thang đo của năm tiêu chí: sự tin cậy (reliability), hiệu quả phục vụ (responsiveness), sự hữu hình (tangibles), sự đảm bao (assurance) và sự cảm thông (empathy).
Mô hình SERVQUAL (Parasuraman et al, 1988) với các biến phụ thuộc là mức độ tin cậy, khả năng đáp ứng, sự cảm thông, sự đảm bảo và phương tiện hữu hình. Sự thỏa mãn của khách hàng được cấu thành từ 2 thành phần: ++ Thỏa mãn chức năng: Sự thỏa mãn đạt được do mua được hàng hay dịch vụ đạt chất lượng với giá cả phù hợp. + Méi quan hệ: Mối quan hệ có được từ quá trình giao dịch kinh doanh tích lũy theo thời gian như sự tin tưởng vào nhà cung cấp dịch vụ, khả năng chuyên môn của nhân viên, thái độ phục vụ khách hàng ~Mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng (CSI model): Chỉ số hài hài lòng của khách hàng bao gồm các nhân tố (biến), mỗi nhân tố được cấu thành từ nhiều yếu tố cụ thể (indicators, items) đặc trưng của sản phẩm hoặc dich vụ. Sự hài lòng khách hàng (customer satisfaction) được định nghĩa như là một sự đánh giá toàn diện về sự sử dụng một dịch vụ hoặc hoạt động sau bán của doanh nghiệp và đây chính là điểm cốt lõi của mô hình CSI.
Xung quanh biến số này là hệ thống các mối quan hệ nhân quả (cause and effect) xuất phát từ những biến số khởi tạo như sự mong đợi (expectations) của khách hàng, hình ảnh (image) doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận (perceived quality) và giá trị cảm nhận (perceived quality) về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo đến các biến số kết quả của sự hài lòng như sự trung thành (customer loyalty) hay su than phiền của khách hang (customer complaints). - M6 hinh chi s6 hài lòng châu Âu (ECSI) có một số khác biệt nhất định. So với ACSI, hình ảnh của sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cam nhận về cả sản phẩm hữu hình và vô hình.
Thông thường, chỉ số ACSI thường. áp dụng cho lĩnh vực công còn chỉ số ECSI thường ứng dụng đo lường các sản phẩm, các ngành - Nghiên cứu xây dựng thang đo chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng của tác giả GS.TS Trương Bá Thành và PGS.TS Lê Văn Huy (2010) (Mô hình được triển khai trên cơ sở phát biểu của Parasuman và cộng. Mô hình lý thuyết chỉ số quốc gia về hài lòng khách hàng của Việt Nam — VCSI có biến độc lâp là chất lượng mong đợi, chất lượng cảm nhận, hình ảnh thương hiệu tác động đến giá trị cảm nhận và từ đó tác động đến sự hài lòng của khách hàng, từ đó khách hàng sẽ phàn nàn nếu cảm thấy không hài lòng và sẽ trung thành nếu mức độ hài lòng của khách hàng là cao. CHUONG 1 CƠ SO LY LUAN VE SU HAI LONG CUA KHACH HANG DOI VOI DICH VU THE ATM CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
Khái niệm dịch vụ Theo Zeithaml & Britner (2000), “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong dợi của khách hàng.” Theo Kotler & Armstrong (2004), “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thê cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “ Dịch vụ là mọi hành động. và kết quả là một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không.
gắn liền với sản phẩm vật chất.” Dịch vụ được định nghĩa theo tiêu chuẩn ISO 9004, “ Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu khách hàng.” Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả là một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có th có hay không. sắn liền với sản phẩm vật chất.” Dịch vụ được định nghĩa theo tiêu chuẩn ISO 9004, “ Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp dé dap ứng nhu cầu khách hàng.” Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “ Dịch vụ là mọi hành động. và kết quả là một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không. gắn liền với sản phẩm vật chất.” Dich vụ được định nghĩa theo tiêu chuẩn ISO 9004, “ Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp đẻ đáp ứng nhu cầu khách hàng.” Nhu vậy, chúng ta thấy rằng dịch vụ phải gắn với hoạt động để tạo ra nó. Các nhân tố cấu thành dịch vụ không như những hàng hóa hữu hình, chúng không tồn tại dưới dạng hiện vật. Sản phẩm dịch vụ nằm trong trạng thái vật chất, người ta có thể nghe được và một số giác quan có thé cảm nhận được.2 Đặc tính dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhát, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ.
Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thê nhìn bằng mắt thường được. - Tính đằng thời, không thề tách rời: Tính không thể tách rời của dịch vụ ở đây muốn nói tới việc khó khăn trong việc phân biệt giữa việc tạo thành. một dịch vụ và việc sử dụng dịch vụ như là hai công việc riêng biệt hoặc hai quá trình riêng biệt. Một dịch vụ không thể tách rời thành hai giai đoạn: giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng nó.
Sự tạo thành và sử dụng của t các dịch vụ sẽ xảy ra đồng thời với nhau. Dịch vụ và hàng hóa không giống. Hàng hóa đầu tiên được sản xuất, đưa vào kho, bán và sử dụng. Còn dịch vụ được tạo ra và được sử dụng suốt quá trình tạo ra dịch vụ đó.
~ Tính không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất, vì dịch vụ bắt nguồn từ sự khác nhau vẻ tính chất tâm lý, trình độ của từng nhân viên, ngoài ra còn chị sự đánh giá cảm tính của từng khách hàng. Tính không đồng nhất ở đây muốn nói đến sự khác nha của các mức độ thực hiện dịch vụ. Có nghĩa là dịch vụ có thể được xếp hạng từ rất kém cho đến rất hoàn hảo. Tính không đồng nhất liên quan đến sự biến thiên cao trong việc thực hiện dịch vụ.
Những vấn đề thiết yếu và chất lượng của một dịch vụ có thể thay đổi tùy theo người phục vụ, khách hàng và thời gian. Về căn bản tính biến thiên trong. dịch vụ cũng dễ xảy ra và xảy ra thường xuyên hơn so với sự không phù hợp của các sản phẩm hữu hình, bởi vì dịch vụ có mức độ tương tác con người cao. Đặc điểm này làm cho việc chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó thực hiện hơn.
~ Tính vô hình: Tính vô hình của dịch vụ là tính chất không thể sờ mó hay nắm bắt dịch vụ, không có một hình dạng cụ thể như một sản phẩm. Những kinh nghiệm về dịch vụ khách hàng thường bao gồm một chuỗi các hoạt động. Mỗi hoạt động đại diện cho một vài tương tác giữa tổ chức cung. cấp dịch vụ với khách hàng.
Do đó về cơ bản sản phẩm dịch vụ là việc thực. hiện, mà nó trái ngược với sản phẩm vật lý vốn hữu hình. Một dịch vụ không phải là vật thể để có thể giữ trong tay hay kiểm tra, cũng khó đề có thể tưởng, tượng ra tác động của một dịch vụ. Và do tính chất vô hình, một dịch vụ không thê biểu diễn trước được.
~ Tính không lưu trữ được: không lập kho để lưu trữ như hàng hóa hữu hình được. Ta không thể cất dịch vụ và sau đó lấy ra dùng. Một dịch vụ sẽ biến mắt nếu ta không sử dụng nó. Ta không thể tồn trữ dịch vụ, vì vậy một dịch vụ không thể được sản xuất, tồn kho và sau đó đem ra bán.
Sau khi một dịch vụ thực hiện xong, không một phần nào của dịch vụ có thể phục hồi lại được. Để giảm ảnh hưởng của tinh chat không tồn trưc được của dịch vụ, người ta cố gắng bán các dịch vụ ở mức cao nhất của nó.2 TÔNG QUAN DỊCH VỤ THẺ ATM 1.1 Khái niệm thẻ ATM Có nhiều khái niệm vẻ thẻ ATM, mỗi một khái niệm được diễn đạt nhằm làm nỗi bật một ni lung nào đó. Sau đây là một số khái niệm về thẻ ATM: - Thẻ ATM. là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
~ Thẻ ATM là phương thức ghi số những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa hoặc các tổ chức tài chính với các điểm thanh toán.