CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm công nghệ địa không gian: Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - gọi tắt là GIS) được hình thành vào những năm 1960 và phát triển rất rộng rãi trong những năm lại đây. GIS ngày nay là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới. GIS có khả năng trợ giúp các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các cá nhân.
đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa GIS. Nếu xét dưới góc độ hệ thống, thì GIS có thể được hiểu như một hệ thống gồm các thành phần: con người, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và quy trình-kiến thức chuyên gia nơi tập hợp các quy định, quy phạm, tiêu chuẩn, định hướng, chủ trương ứng dụng của nhà quản lý, các kiến thức chuyên ngành và các kiến thức về công nghệ thông tin. Khi xây dựng một hệ thống GIS ta phải quyết định xem GIS sẽ được xây dựng theo mô hình ứng dụng nào, lộ trình và phương thức tổ chức thực hiện nào.
Chỉ trên cơ sở đó người ta mới quyết định xem GIS định xây dựng sẽ phải đảm đương các chức năng trợ giúp quyết định gì và cũng mới có thể có các quyết định về nội dung, cấu trúc các hợp phần còn lại của hệ thống cũng như cơ cấu tài chính cần đầu tư cho việc hình thành và phát triển hệ thống GIS. Với một xã hội có sự tham gia của người dân và quá trình quản lý 4 thì sự đóng góp tri thức từ phía cộng đồng đang ngày càng trở nên quan trọng và càng ngày càng có vai trò không thể thiếu. Khái niệm về GPS: Hệ thống Định vị Toàn cầu (Global Positioning System - GPS) là hệ thống xác định vị trí dựa trên vị trí của các vệ tinh nhân tạo, do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý. Trong cùng một thời điểm, tọa độ của một điểm trên mặt đất sẽ được xác định nếu xác định được khoảng cách từ điểm đó đến ít nhất ba vệ tinh.
Khái niệm về viễn thám Viễn thám được hiểu là một khoa học và công nghệ để thu nhận thông tin về đối tượng, khu vực hoặc hiện tượng nghiên cứu thông qua việc phân tích tư liệu thu nhận được bằng các phương tiện, kỹ thuật không tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, khu vực hoặc với hiện tượng được nghiên cứu. Khái niệm về GIS Trong những năm gần đây, Hệ thông tin địa lý (Geography information system-GIS) đã phát triển rất mạnh mẽ về lý thuyết, kỹ nghệ cũng như tổ chức. Đồng thời GIS được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu địa chất, địa lý, nông nghiệp, đô thị, giao thông, thực vật, địa chính, kinh tế. Có nhiều khái niệm khác nhau về GIS của nhiều tác giả khác nhau nhưng về bản chất thì GIS bao gồm các thành phần cấu thành cơ bản sau: - Phần cứng máy tính bao gồm các thành phần vật lý của máy tính và các thiết bị ngoại vi khác (máy in, scanner, máy vẽ.) - Phần mềm GIS là các chương trình máy tính thực hiện các công viêc chuyên môn của GIS, thực hiên các chức năng thu nhận và lưu trữ các dữ liệu không gian cũng như thuộc tính, các thao tác xử lý số liệu, mô hình số độ cao.
Có thể kể ra một số phần mềm chuyên dụng GIS như Arc/Info, Map/Info, Arcview. 5 - Dữ liệu GIS bao gồm các dữ liệu không gian (ảnh, bản đồ.) và dữ liệu thuộc tính (các đặc điểm, tính chất của các đối tượng không gian, các quá trình, hiện tượng xảy ra ở các đối tượng không gian đó) của các đối tượng được nghiên cứu. Ảnh vệ tinh là dữ liệu dạng raster, được chụp theo phương pháp chụp toàn cảnh bằng máy chụp ảnh quang học gắn trên các vệ tinh ngoài vũ trụ. Đã có nhiều thế hệ vệ tinh của nhiều quốc gia, công ty quốc tế được phóng vào không gian để thực hiện việc chụp ảnh này, nh- là các vệ tinh Landsat (Mỹ), SPOT (Pháp), SOJZU (Nga).
Tới nay, đã có tất cả 8 vệ tinh Landsat đã được phóng vào quỹ đạo. Trong luận văn này, tác giả sử dụng ảnh vệ tinh Landsat TM chụp từ vệ tinh Landsat 5. Ảnh Landsat TM quét đa phổ được chia thành 7 kênh (band) dùa theo độ lớn của bước sóng ánh sáng trong giải quang phổ. Trong mỗi kênh, các đối tượng thể hiện các đặc trưng bức xạ, phản xạ hay hấp thụ ánh sáng khác nhau.
Điều này giúp cho việc lựa chọn những kênh phù hợp để tạo lên một ảnh tổ hợp màu theo những mục đích khác nhau. Ảnh tổ hợp màu Landsat TM thường được tạo ra với ba kênh khác nhau trong các lớp màu đỏ, xanh lam và xanh da trời (red-green-blue). - Người sử dụng: Đây là yếu tố mang tính chất quyết định, là người thiết kế và thực hiện các thao tác kỹ thuật để có được kết quả theo các yêu cầu khác nhau. Các hợp phần trên nằm trong mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau tạo thành Hệ thống thông tin địa lý.
Nếu thiếu một trong hợp phần trên thì GIS sẽ ngừng hoạt động hoặc chỉ là một hệ thống chết. Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật bốn hợp phần trên cũng được được phát triển mạnh mẽ, tạo lên một Hệ thông tin địa lý cũng được phát triển hơn, thực hiện được các chức năng ưu việt hơn, nhanh hơn, mạnh hơn, tiện lợi và dễ dàng hơn trong vận hành và sử dụng. Như vậy ta có thể hiểu một cách khái quát về GIS như sau: Hệ thống thông tin địa lý là tập hợp có tổ chức của phần cứng, phần mềm máy tính, dữ 6 liệu địa lý và các thủ tục của người sử dụng nhằm trợ giúp việc thu nhận, lưu trữ, quản lý, xử lý, phân tích, hiện thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra. Ngoài ra còn một số định nghĩa về GIS của một số tác giả như sau: - Theo Burrough (1986) thì GIS là “Tập hợp các công cụ để thu nhập, lưu trữ, tra cứu, chuyển đổi và biểu thị các dữ liệu không gian từ thế giới thực”.
- Parker (1988) định nghĩa GIS như một “kĩ nghệ thông tin nhằm lưu trữ, phân tích và biểu thị dữ liệu không gian và phi không gian”. - Aronoff (1989) quan niệm GIS là “bất kỳ một phương thức trên sách tra khảo hoặc máy tính dùng để lưu trữ, thao tác các dữ liệu tham chiếu địa lý” 1. Ứng dụng viễn thám và GIS trên thế giới Các nước tiên tiến ứng dụng viễn thấm đầu tiên là: Mỹ, Nga, Ấn Độ, Canada, Nhât, và mới đây có thêm Trung Quốc … việc ứng dụng kết hợp công nghệ viễn thám và GIS đã trở thành công nghệ hoàn chỉnh, được sử dụng rộng rãi không chỉ để theo dõi, kiểm kê, dự báo, quản lý các tài nguyên trên đất liền mà còn hướng dần ra biển và đại dương. Ứng dụng sử dụng tư liệu viễn thám đa phổ, đa thời gian để theo dõi biến động bề mặt địa lý tự nhiên trên mặt đất đã được hình thành trên thế giới ngay từ khi các vệ tinh quan sát Trái Đất đầu tiên được đưa lên vũ trụ.
Trên thế giới, đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này và đã rất thành công. Khả năng sử dụng tư liệu ảnh viễn thám kết hợp với GIS không chỉ áp dụng nghiên cứu bề mặt địa lý nói chung hay biến động tài nguyên rừng, biển nói riêng mà nó còn được áp dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực như quản lý tài nguyên và môi trường, cảnh báo ngập lụt. Từ những năm 70 của thể kỷ XX, khi ảnh vệ tinh và phương pháp viễn thám được sử dụng ngày càng rộng rãi 7 thì nó cũng được ứng dụng trong các lĩnh vực lâm nghiệp - từ khâu kiểm kê, tìm, chọn vị trí đến khâu quy hoạch sử dụng tài nguyên rừng. Tuy nhiên việc ứng dụng viễn thám và GIS vào vấn đề lâm nghiệp nói chung là rất khó khăn vì nó đòi hỏi đội ngũ chuyên gia của nhiều ngành nghề, kỹ thuật cao.
Chính vì vậy, xu thế của nhiều nước phát triển hiện nay là phối hợp nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS vào các chuyên ngành và lĩnh vực cụ thể. Ứng dụng viễn thám và GIS ở Việt Nam trong đánh giá biến động tài nguyên rừng Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có rất nhiều công trình khoa học ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý như: Nghiên cứu quy hoạch đô thị Hà Nội (TS. Đinh Thị Bảo Hoa), nghiên cứu sự biến động bề mặt địa lý, giám sát tài nguyên và môi trường. Các ứng dụng viễn thám và GIS trong lĩnh vực nghiên cứu biến động tài nguyên rừng, đất rừng ngập mặn mặc dù còn chưa nhiều nhưng cũng đã được đề cập đến như: xác định biến động đường bờ vùng Tiền Hải - Thái Bình, công tác quản lý vùng bờ tỉnh Nam Định hay nghiên cứu sự sạt lở bờ sông Tiền, sông Hậu thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Các công trình này đã thể hiện được tính ưu việt của tư liệu ảnh viễn thám kết hợp với GIS trong khả năng ứng dụng của nó. Các công trình nghiên cứu biến động tập trung vào việc sử dụng các tư liệu ảnh đa thời gian cũng như ảnh của nhiều vệ tinh khác nhau để nghiên cứu biến động lớp phủ thực vật như biến động tài nguyên rừng, biến động sử dụng đất, biến động đường bờ biển, biến động rừng ngập mặn, nghiên cứu biến động về hiện trạng sử dụng đất. Công cụ viễn thám và GIS với các phần mềm có các chức năng phân tích, xử lý dữ liệu mạnh ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong những năm gần đây, GIS được sử dụng nh một công cụ đắc lực trong công tác nghiên cứu, quản lý, khai thác cũng nh bảo vệ môi 8 trường.
Các bản đồ quy hoạch, bản đồ xói mòn đất tiềm năng, bản đồ hiện trang rừng, hiện trạng giao thông. có thể được thành lập bằng công cụ GIS.