+CŒœ otilo+ 86 KHOA HOC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG - TP. HO CHi MINH SỞ THỂ DỤC THỂ THAO TP. HO CHi MINH NHÀ XUẤT BẢN THỂ DỤC THỂ THAO HÀ NỘI - 2003 eas OC SG KHOA HOC CONG NGHE VA MOI TRUONG - TP. HỒ CHÍ MINH SỞ THỂ DỤC THỂ THAO TP.
H6 CHi MINH TUYỂN CHỌN Và HUẤN LUYỆN BƠI NGHỆ THUẬT (Lưu hành nội bộ) NHÀ XUẤT BẢN THỂ DỤC THỂ THAO HÀ NỘI - 2003 Bién soan: PGS.TS LE NGUYET NGA Cùng cộng sự PHAN MG BAU ác môn thé thao dưới nước bao gồm: boi- nhay Cà, bóng nước- bơi nghệ thuật. Ở Việt Nam từ năm 1995, lần đầu tiên môn bơi nghệ thuật được đưa vào chương trình thi đấu quốc gia hàng năm. Tại SEA Games 19 6 Jakarta (nim 1997), hai vận động viên Nguyễn Thảo Ngọc và Lê Thị Ngọc Diễm được xếp hạng 4, thua sát nút Thái Lan. Sau thành công ban đầu của môn bơi nghệ thuật Việt Nam, từ năm 1998 phong trào bơi nghệ thuật đã phát triển rộng rãi hơn, số lượng vận động viên, số lượng đơn vị, các câu lạc bộ tham gia thi đấu cũng tăng lên đáng kể.
Làm thế nào để có thể giành được huy chương trong thời gian chuẩn bị không dài ? Sau khi phân tích toàn diện thực tế phong trào bơi nghệ thuật, chúng tôi nhận thấy trình độ môn bơi nghệ thuật của ta còn thấp. Một trong những nguyên nhân chính là chúng ta chưa có một chương trình huấn luyện chung, thống nhất được soạn thảo dựa trên cơ sở khoa học. Việc tuyển chọn vận động viên chưa được tiến hành theo hệ thống thống nhất, chưa có chuẩn mực chung và tiêu chuẩn tuyển chọn cụ thể. Chúng ta phải bắt tay từ chương trình huấn luyện cho các nhóm tuổi.
Thông qua chương trình huấn luyện tương đối khoa học và phù hợp với thực tế của vận động viên, để phát hiện ra các mặt mạnh, mặt yếu của họ, nhất là đối với các vận động viên trọng điểm, các tuyển thủ quốc gia, tạo diéu kiện giúp cho Ban huấn luyện, Huấn luyện viên trong việc lựa chọn, bố trí nội dung huấn luyện cho phù hợp hơn. Khi phong trào bơi nghệ thuật phát triển rộng rãi, vận động viên sẽ được quản lý theo các tuyến như bơi lội hiện nay. Để - giúp cho Hội đồng tuyển chọn làm việc được khách quan, chúng ta cần có các tiêu chuẩn tuyển chọn, thang điểm tuyển chọn vận động viên bơi nghệ thuật phù hợp. KHÁI QUÁT VỀ MÔN BƠI NGHỆ THUẬT: Bơi nghệ thuật là môn thể thao dưới nước mới được phát triển trong thời gian cận đại.
Nhưng ngay từ thời Cổ Hy Lạp và Cổ La Mã đã có thanh thiếu niên nam nữ biểu điễn tập thể ở đưới nước. Động tác tạo hình đẹp của bơi nghệ thuật đã từng làm cảm động nhà thơ người La Mã đương thời là Maxia, trong thơ của ông có đoạn viết “họ như những con cá đang bơi trong nước, cơ thể của họ thật tuyệt đẹp”. Sau đó bơi nghệ thuật dần dân phát triển thành môn thể thao đưới nước đành cho giới nữ. Đặc điểm của môn thể thao này là kết hợp được bơi lội, vũ đạo, âm nhạc, kỹ xảo trong một thể thống nhất.
Bơi nghệ thuật đã trở thành môn thể thao có đặc điểm nghệ thuật cao, được đông đảo mọi người yêu thích. Năm 1973, giải vô địch thế giới về bơi nghệ thuật được tổ chức. Năm * 1984, bơi nghệ thuật được công nhận là môn thi đấu Olympic. Bơi nghệ thuật cũng là môn thi đấu chính thức trong Asiad và trong SEA Games.
Hiện nay đã có hơn 20 nước phát triển môn thể thao này, tương đối phổ biến là ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á.1 Tóm tắt sự phát triển môn bơi nghệ thuật trên thế giới : Môn bơi nghệ thuật bắt nguồn từ những năm 20 của thế kỷ 20 ở các nước Châu Âu như Đức, Anh. Sở đĩ gọi là môn bơi nghệ thuật vì người biểu diễn ở dưới nước, hoàn thành sự thay đổi các vũ hình và động tác đơn giản theo tiết tấu (nhịp điệu) của âm nhạc. Tới những năm 30, bơi nghệ thuật được phát triển ở Bi, Hà Lan, Đức, Canada và từ Canada truyền vào nước Mỹ. Bơi nghệ thuật có sự kết hợp cao độ giữa âm nhạc, nghệ thuật và được mệnh danh là “balê dưới nước”.
Năm 1936, tai dai hoi Olympic lan tht 11 6 Berlin đã tổ chức bơi biểu diễn có phối hợp âm nhạc và các vũ hình. Năm 1942, Mỹ tổ chức thi đấu bơi nghệ thuật và đã biến môn bơi nghệ thuật thành môn thể thao. Tiêu chuẩn cho điểm là sự thống nhất nhịp nhàng giữa động tác và âm nhạc nên được gọi là SYNCHRONIZED (Bơi đồng bộ). Năm 1950, Mỹ bắt đầu tổ chức giải vô địch bơi nghệ thuật toàn quốc lần đầu tiên.
Năm 1952, tại Olympic lần thứ 15, Mỹ và Canada đã tiến hành biểu diễn bơi nghệ thuật. Năm 1956, Liên đoàn bơi lội nghiệp dư quốc tế (FINA) đã coi bơi nghệ thuật là 1 trong 4 môn bơi thể thao dưới nước đo Liên đoàn quản lý (bơi lội, nhảy cầu, bóng nước, bơi nghệ thuật) và trở thành môn thể thao chính thức. Năm 1958, trong cuộc thị đấu bơi nghệ thuật tổ chức tại Hà Lan có 9 đội tham gia. Sau đó, mỗi kỳ Olympie đều có biểu diễn bơi nghệ thuật.
Năm 1973, giải bơi nghệ thuật vô địch thế 6 giới lần đâu tiên được tổ chức có 15 nước tham dự với hơn 80 vận động viên tham gia thi đấu. Năm 1984, tại Olympic lần thứ 23, bơi nghệ thuật được công nhận là môn thi đấu chính thức. Sau năm 1984, giải vô địch thế giới cứ 4 năm tổ chức một lần. Tại Châu Á, Nhật Bản là nước triển khai môn bơi nghệ thuật tương đối sớm.
Tháng 7 năm 1954, Nhật Bản đã mời toàn đội bơi nghệ thuật của Mỹ sang biểu diễn. Tháng 8 năm 1956, lần đầu tiên Nhật Bản tổ chức giải bơi nghệ thuật toàn quốc. Tại Trung Quốc, phong trào bơi nghệ thuật bắt đầu tương đối muộn. Năm 1983, Ủy ban TDTT Trung Quốc mới cử người sang Nhật Bản học tập và chính thức thông báo phát triển môn thể thao này, déng thời mời chuyên gia Nhat Ban qua giảng dạy.
Tiếp đó Trung Quốc nhiều lần mời các chuyên gia của Nhật, Mỹ Canada sang giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm. Các chuyên gia đã chỉ cho VĐV Trung Quốc nhìn thấy mặt mạnh là mêm dẻo, mặt yếu là sức mạnh, tốc độ. Do tích cực đầu tư, thành tích môn bơi nghệ thuật của Trung Quốc đã tiến bộ rất nhanh. Năm 1995, sau 13 năm kể từ khi bắt đầu phát triển môn bơi nghệ thuật, Trung Quốc đã giành được hạng 6 đông đội trong giải vô địch thế giới.
Trình độ bơi nghệ thuật của thế giới có thể chia thành 3 nhóm như sau : nhóm thứ nhất gồm đội Mỹ, Canada, Nhật Bản; nhóm thứ nhì gồm các đội Thuy S¥, Nga Hà Lan, Anh, Đức, Trung Quốc; nhóm thứ ba gồm các đội Mâhicô, Tân Tây Lan, Úc.2 Sơ lược sự hình thành và phát triển môn bơi nghệ thuật tại Việt Nam và tại TP.HCM : Ở Việt Nam, chủ yếu là tại thành phố Sài Gòn - Gia Định cũ, môn bơi nghệ thuật đã được hình thành từ năm 1972. Một nhóm phụ nữ giàu có tổ chức thành Hội. Họ đã tập luyện và biểu điễn một số vũ hình tại bé boi “Cercle” (Nay là Cung Văn Hóa - Lao Động TP.HCM) và ở bể bơi Yết Kiêu. Từ ngày Miễn Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước đến năm 1982, phong trào bơi nghệ thuật của TP.HCM đã phát triển dần lên, nhất là khi bể bơi Yết Kiêu được giao về cho Sở TDTT Thành Phố trực tiếp quản lý.
Năm 1983, HLV Nguyễn Ngọc Quang là người đầu tiên mở khóa đào tạo VĐV bơi nghệ thuật trẻ của TP. Kỹ thuật động tác còn đơn giản, chủ yếu là mô phỏng các vũ hình, đội hình qua các tài liệu, tranh ảnh. Tập luyện bơi nghệ thuật lúc đó chủ yếu nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển cơ thể toàn điện, biểu diễn phục vụ các ngày lễ, các cuộc thi đấu bơi lội cấp toàn quốc. Năm 1987, quyển sách bơi nghệ thuật đầu tiên của hai tác giả Lê Nguyệt Nga và Đào Công Sanh được xuất bản.
Trong quyển sách đã trình bày kỹ thuật, phương pháp giảng dạy, huấn luyện trên cạn, dưới nước, đạy bơi theo nhạc đệm, phương pháp tổ chức trọng tài, phương pháp cho điểm. Chất lượng phong trào bơi nghệ thuật ngày một nâng cao. Các bài biểu diễn có tính nghệ thuật khá, có sự hấp dẫn cao. Đội bơi ñghệ thuật của Nhà văn hóa Lao Động TP.HCM do HLV Đổng Quốc Cường phụ trách đã tập luyện, biểu diễn thường xuyên.
Tháng 10 năm 1995, được sự cho phép của Tổng Cục TDTT (Nay 1a Uy Ban TDTT) và Hiệp hội Thể Thao Dưới Nước Việt Nam, môn bơi nghệ thuật được đưa vào chương trình thi đấu quốc gia hàng năm. Giải bơi nghệ thuật các câu lạc bộ toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức tại bể bơi Nhà văn hóa Lao Động Thành phố Hồ Chí Minh, có 2 đơn vị là Đội bơi nghệ thuật Nhà văn hóa Lao Động và Đội bơi nghệ thuật Nhà văn hóa Phụ Nữ Thành Phố giành chức vô địch cá nhân. Đến tháng 10 năm 1996, trong giải vô địch bơi nghệ thuật các câu lạc bộ toàn quốc, TP.HCM tham gia với 5 đơn vị và 15 VĐV. Đến tháng 6 năm 1997, nhận lời mời chính thức của Indonexia - nước chủ nhà đăng cai tổ chức SEA Games 19 tai Jakarta, Tổng Cục TDTT và Hiệp Hội Thể Thao Dưới Nước Việt Nam quyết định ủy nhiệm cho Sở TDTT TP.
HCM, Liên Đoàn Thể Thao Dưới Nước Thành Phố tiến hành tuyển, chọn và tập huấn một đội bơi nghệ thuật gồm 2 VĐV và 1 HLV. Dưới sự dẫn dat của HLV Đổng Quốc Cường, 2 VĐV Nguyễn Thảo Ngọc và Lê Thị Ngọc Diễm đã tập luyện và thi đấu tốt - đội Việt Nam xếp hạng 4 chung cuộc. Năm 2001, bơi nghệ thuật Việt Nam thực sự đổi sắc. Chúng ta đã sang tập huấn ngắn hạn tại Quảng Châu - Trung Quốc (từ 11/5 đến 10/07/2001) : Có 4 VĐV và 1 HLV.
- Tham dự giải vô địch thế giới về bơi nghệ thuật tại FUKUOKA - Nhat Ban (từ 11⁄7 đế 92/07/2001) : Có 1 HLV va 2 VPV thi đấu một bài đơn, 1 bài đôi. - Tham dự giải bơi nghệ thuật - Đại hội TDTT Thành phố mở rộng lần IV tại Câu lạc bộ Bơi lặn Phú Thọ - TP. Có 2 đội nước ngoài tham dự là Malaysia (4 VĐV) và Thái Lan (2 VĐV). Tôn Nữ Quỳnh Như đạt huy chương bạc đơn, Tôn Nữ Quỳnh Như và Trịnh Thanh Hiển đạt huy chương bạc đôi.