Chương 1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC MẠNH TỬ 1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC MẠNH TỬ 1. Đặc điểm kinh tế, chính trị - xã hội Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc Triết học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, trong quá trình hình thành và phát triển luôn chịu sự chi phối, ảnh hưởng sâu sắc của những điều kiện lịch sử kinh tế - xã hội nhất định. Lịch sử triết học hàng ngàn năm của nhân loại đã chứng minh rằng không có một học thuyết, một trường phái triết học nào nảy sinh trên mảnh đất trống không, mà đều hình thành, phát triển trên nền tảng, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhất định.Mác đã từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [64, 156].
Triết học Trung Quốc cổ đại nói chung, tư tưởng triết học Mạnh Tử nói riêng cũng không ngoại lệ. Những tư tưởng này được sinh ra và phát triển rực rỡ gắn liền với thời kỳ lịch sử - xã hội Xuân thu – Chiến quốc. Nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng của Trung Quốc cũng đã khẳng định: “Phàm đã gọi là một học thuyết quyết không thể là một cái gì từ trên trời rơi xuống. Nếu nghiên cứu tỉ mỉ hơn chúng ta tất sẽ tìm ra được nhiều nguyên nhân đã xảy ra trước và hậu quả về sau của nó” [92, 53].
“Nhà tư tưởng thường chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh trong đó nhà tư tưởng sống. Cảnh trí xung quanh khiến cho nhà tư tưởng có ý thức về cuộc sống theo một lối nào, và triết học của nhà tư tưởng, do đó, sẽ có những 9 quan điểm nhất mạnh hay không đề cập tới, làm thành những nét đặc biệt của một triết học” [46, 32]. Những luận điểm trên cho thấy điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thời Trung Quốc cổ đại trở thành một trong những cơ sở khoa học của việc hình thành tư tưởng triết học của Mạnh Tử. Tư tưởng triết học Trung Quốc có mầm mống từ thời tiền sử, nhưng đến thời Xuân thu – Chiến quốc mới thực sự trở thành một hệ thống.
Xuân thu – Chiến quốc, về niên đại được xem là bắt đầu từ năm 770 tr.CN và kết thúc vào năm 221 tr.CN; về triều đại là thời Đông Chu (770 – 256 tr. Đây là giai đoạn lịch sử được đánh dấu bằng sự kiện Hạo Kinh bị các tộc Hiểm Doãn, Tây Nhung tàn phá, nên Chu Bình Vương phải dời đô về phía Đông, đến Lạc Ấp (Lạc Dương, Tỉnh Hà Nam bây giờ), đánh dấu một giai đoạn mới của nhà Chu, sử sách gọi là thời Chu mạt, Đông Chu hay Xuân thu – Chiến quốc và kết thúc khi nhà Tần diệt Chu, Tần Thủy Hoàng lên ngôi thống nhất Trung Hoa (năm 221 tr.CN), lập ra nhà nước phong kiến đầu tiên ở Trung Quốc. Đây là thời kỳ giao thoa giữa hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ suy tàn và hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sơ kỳ, một xã hội đầy biến động, phức tạp và đồng thời, cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ của Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực. Về kinh tế, thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt.
Sự ra đời của đồ sắt có thể coi như một cuộc cách mạng trong công cụ sản xuất. Trong sách Quốc ngữ, Chu ngữ có viết: “Đồng thau để đúc kiếm, kích …, sắt để đúc cuốc, cào và quả cân” [94, 283]. Nó trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất cổ đại Trung Quốc phát triển trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. 10 Về nông nghiệp là ngành kinh tế giữ vai trò đặc biệt quan trọng, lâu đời trong đời sống xã hội Trung Quốc.
Để tồn tại và phát triển, người Trung Quốc buộc phải không ngừng cải tiến công cụ sản xuất, phát triển sản xuất nông nghiệp. Từ đồ sắt, phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp. Thời kỳ này hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang. Diện tích đất đai canh tác ngày càng được mở rộng.
Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp. Vì vậy, đã giảm bớt sức lao động cơ bắp của con người, năng suất lao động tăng. Từ những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của đồ sắt, tất yếu dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong quan hệ sản xuất cổ truyền ở thời Xuân thu. Người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ, căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa.
Thì giờ đây, công xã đã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cầy cấy trong thời hạn lâu dài. Vì thế, họ có điều kiện lưu canh, luân canh để tăng năng suất cây trồng. Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô khai hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều. Bọn quý tộc có quyền thế chiếm của công xã làm ruộng tư.
Chế độ “tỉnh điền” cũng dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước hình thành. Chế độ tư hữu về ruộng đất được xác lập tại nhiều nước còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Về thủ công nghiệp, đồ sắt ra đời thay thế đồ đồng không chỉ thúc đẩy nông nghiệp phát triển mà còn thúc đẩy sản xuất thủ công nghiệp phát triển. Với tính ưu việt của đồ sắt như, bền hơn, cứng hơn, sử dụng tiện lợi hơn đồ đồng nên việc sử dụng công cụ bằng sắt ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và phổ biến.
Quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong 11 sản xuất thủ công nghiệp nhanh chóng đạt tới trình độ chuyên nghiệp cao, mở ra cơ hội cho một loạt ngành nghề thủ công ra đời, phát triển như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm, v. Vào cuối thời Xuân thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt, số thợ lên đến 300 người. Nước tấn trưng mua sắt để đúc đỉnh hình. Trong sách Chu lễ đã viết: “thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…”[17, 250].
Thợ thuyền tuy nhiều nhưng vì trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng gì lớn trong đời sống chính trị - xã hội. Về thương nghiệp, cùng với sự phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển đã tạo cơ sở cho thương nghiệp phát triển hơn trước. Tiền tệ đã ra đời. Trong xã hội hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có, danh tiếng, như Phạm Lãi, Huyền Cao (nước trịnh), Tử Cống ( vốn học trò của Khổng Tử)… Tuy nhiên, do thực trạng khó khăn lúc bấy giờ cản trở rất lớn đến việc giao lưu, buôn bán như: tình trạng xã hội rối ren, lãnh thổ chia năm xẻ bảy, phương tiện giao thông thô sơ, đường sá hiểm trở… nên việc kinh doanh không phải ai cũng làm được, đòi hỏi phải là những con người tháo vát, quyết đoán dám mạo hiểm.
Đặc biệt, trong quan niệm cổ truyền, người Trung Quốc với tư duy “nông bản, thương mạt”, “trọng nông, ức thương” luôn xem thường, khinh rẻ nghề buôn bán. Chính vì thế, thương nghiệp lúc này chưa thực sự phát triển, chưa có tác động, ảnh hưởng lớn đối với đời sống kinh tế - xã hội. Song sự hình thành của nó đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp - xã hội, một tầng lớp mới. Tầng lớp này, dần dần xuất hiện một loạt quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ.
Về chính trị xã hội, những biến đổi về kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi về chính trị. Nếu như thời Tây Chu chế độ tông pháp còn 12 được tôn nghiêm, cai trị xã hội chủ yếu dựa vào lễ và tập tục; quý tộc, chủ nô tùy tiện dùng hình phạt khắc nghiệt trừng trị những kẻ làm trái ý mình. Điều đó, có tác dụng tích cực giúp nhà Chu tồn tại, hưng thịnh trong một thời gian dài thì đến thời Xuân thu chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn nghiêm, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng mờ nhạt, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước. Những biến đổi, rạn nứt trên đã làm cho trật tự quyền hành của Thiên tử - Chư hầu – Khanh đại phu chỉ còn là hình thức trên danh nghĩa.
Thực chất, lúc này thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì với các nước chư hầu. Thiên tử không còn đủ thực quyền xét xử những cuộc chấp giữa các nước. Nhân cơ hội này, nhiều nước đua nhau động binh, mượn tiếng, lấy cớ khôi phục chế độ tông pháp chế độ nhà Chu với khẩu hiệu “tôn vương bài di”, nhưng thực chất là bảo vệ, khẳng định, mở rộng quyền lực chính trị, kinh tế của mình, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ. Các cuộc chiến tranh trong thời Xuân thu đã đẩy người dân đến cùng khổ, mất mát.
Họ, phải gánh chịu sưu cao, thuế nặng, thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân càng thêm khốn khổ. Dân lưu vong đồng trong ruộng ngoài bỏ hoang. Không những thế các lãnh chúa, quý tộc đã không từ một thủ đoạn nào để chiếm đoạt ruộng đất, cưỡng bức, đàn áp dân lành. Kết quả, của những biến động kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi trong kết cấu giai tầng của xã hội.
Nhiều tầng lớp mới xuất hiện, mới cũ đan xen và mâu thuẫn với nhau ngày càng gay gắt dẫn đến sự thay đổi về quyền lợi.