CHƯƠNG 1: DIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA VÕ VĂN KIỆT 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA VÕ VĂN KIỆT Để hiểu rõ về tư tưởng đổi mới tư duy của Võ Văn Kiệt, trước hết phải làm rõ bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Bởi tư tưởng đổi mới tư duy của Võ Văn Kiệt không hình thành một cách ngẫu nhiên, nó là sản phẩm của lịch sử, hình thành và phát triển do hoàn cảnh lịch sử quy định. Nó ra đời trong những năm 80 của thế kỷ XX, trong bối cảnh đất nước gặp vô vàn khó khăn do tình hình trong nước và ngoài nước mang lại.
Trong hoàn cảnh đó, để thoát khỏi tình thế khó khăn, tất yếu phải đổi mới tư duy lãnh đạo đất nước, nếu không tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội sẽ trở nên trầm trọng, chế độ có thể bị sụp đổ. Điều kiện lịch sử thế giới với việc hình thành tư tưởng đổi mới tư duy của Võ Văn Kiệt Thứ nhất, sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Liên Xô và các nước Đông Âu đã trải qua thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất ở những giai đoạn 1950 - 1970, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, chính trị, quân sự,. và là đối trọng với các quốc gia tư bản do Hoa Kỳ đứng đầu. Nền kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu trong những giai đoạn năm 50 - 60 của thế kỷ XX, đã có lúc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế gần 10%/năm (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2021, tr 10–11).
Tuy nhiên đến những năm 80 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước Đông Âu bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hoảng và sau đó tan rã hoàn toàn. Trước khi sụp đổ, Liên Xô đã có nhiều nỗ lực cải tổ, song hoàn toàn thất bại. Sự thất bại trong cải tổ và sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản như sau: 12 Một là, Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã không nhìn nhận đúng đắn về nền kinh tế thị trường, trong một thời gian dài đã duy trì nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu, bao cấp, (chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nguyên nhân sụp đổ và bài học kinh nghiệm, 2002, tr 157). Trong thời kỳ lãnh đạo của V.Lênin, đặc biệt là khi áp dụng Chính sách kinh tế mới (NEP), ông đã từng nhận ra được sự ưu việt của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nhưng sau đó Liên Xô đã vấp phải cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai, buộc nền kinh tế lại quay lại cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ. Có thể nói trong thời kỳ chiến tranh, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã phát huy hiệu quả thế mạnh của việc công hữu hóa tư liệu sản xuất, phục vụ cho kháng chiến và khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Nhờ đó góp phần tạo nên những thắng lợi trong Cách mạng Công nghiệp của Liên Xô những năm 30 và phục hồi nhanh sau năm 1945. Mô hình của Liên Xô áp dụng trở thành công thức khuôn mẫu trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, chính cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ đã triệt tiêu đi nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ, làm cho động lực sản xuất giảm sút, làm cho nền kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu chậm phát triển và có sự thụt lùi so với các nước tư bản chủ nghĩa. Hai là, nền kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu quá chú trọng vào cơ chế kinh tế tập thể và kinh tế quốc doanh, không coi hộ gia đình, kinh tế cá thể là đơn vị kinh tế, là tế bào kinh tế trong hệ thống nền kinh tế quốc gia (chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nguyên nhân sụp đổ và bài học kinh nghiệm, 2002, tr 160). Liên Xô và các nước Đông Âu đã nhận thức sai về sự tồn tại của sản xuất hàng hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nên đã dẫn đến nhận thức sai về sự tồn tại của các thành phần kinh tế. Chế độ Xô Viết chỉ duy trì hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nhưng cũng đã đặt sai vai trò của hai hình thức kinh tế này trong hệ thống nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Ngoài những ưu điểm, thì hai hình thức kinh tế này cũng bộc lộ những hạn chế như: làm mất động lực lao động; mất tính công bằng trong lao động của kinh tế hộ gia đình, kinh 13 tế cá thể hay kinh tế tư bản tư nhân. Những quốc gia này đánh giá sai vai trò của kinh tế hộ gia đình, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân, trong khi đặc thù của sản xuất nông nghiệp thì hộ gia đình có nhiều ưu thế trong công tác sản xuất, dự trữ và lưu thông hàng hóa. Nền kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể còn đem lại động lực cho sự sản xuất và kích thích nhu cầu trao đổi hàng hóa. Do những vấn đề trên, dẫn đến nền kinh tế Liên Xô và các nước Đông Âu liên tục chỉ dựa vào việc phát triển kinh tế tập thể, kinh tế quốc doanh mà bản thân nó còn nhiều khiếm khuyết.
Từ đó dẫn đến động lực lao động của lực lượng sản xuất bị giảm sút, khiến năng xuất hàng hóa giảm theo; hàng hóa khan hiếm, tỷ lệ lạm phát gia tăng; xuất hiện tình trạng đầu cơ tích trữ làm đảo lộn nền kinh tế, khiến tình trạng khủng hoảng hàng hóa liên tục gia tăng từ những năm 1970. Sự thay thế của kinh tế tập thể chỉ hiệu quả khi nền kinh tế có lượng hàng hóa dồi dào, cần tăng khả năng cạnh tranh, lưu thông hàng hóa, giúp hàng hóa được luân chuyển và trao đổi đa dạng, kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nên trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế tập thể thực hiện hợp tác để tạo ra sản lượng lớn là rất phù hợp, nhưng không có nghĩa kinh tế tập thể có thể thay đổi hoàn toàn vai trò kinh tế của các thành phần khác. Vì các thành phần kinh tế khác có những điểm mạnh riêng như: Gắn lợi ích năng suất với năng lực lao động; gắn hiệu quả công việc với trách nhiệm là yếu tố cốt lõi để phát huy được động lực lao động và trao đổi hàng hóa.
Việc Liên Xô và các nước Đông Âu đã bỏ qua vai trò tích cực của các thành phần kinh tế trên thực sự là một sai lầm trong đường lối phát triển của mình. Nhưng các nước này vẫn bảo thủ và không nhận thức được những sai lầm của mình, dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đó chính là một bài học trong sự thay đổi tư duy của các nước hệ thống xã hội chủ nghĩa, nếu muốn tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải thay đổi tư duy về mô hình kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Ba là, bộ máy Đảng và Nhà nước có nhiều lỗ hổng, nhiều khuyết tật, nhưng lại không kịp thời sửa chữa (chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nguyên nhân 14 sụp đổ và bài học kinh nghiệm, 2002, tr 156).
Hệ thống bộ máy Nhà nước quá ưu tiên nền kinh tế tập thể và nền kinh tế quốc doanh, khiến quyền lực của những cán bộ Nhà nước ngày càng lớn, có thể chi phối nền kinh tế và hệ thống sản xuất của quốc gia. Từ đó xuất hiện thực trạng xuống cấp trong đội ngũ Đảng viên, sự biến chất là tất yếu và vấn đề quyền lợi cá nhân đặt trên quyền lợi tập thể xuất hiện. Tình trạng tham nhũng, quyền lực Nhà nước bị “nhóm lợi ích” chi phối, quyền lực của nhân dân bị giảm sút đáng kể. Bộ máy cầm quyền ở Liên Xô và các nước Đông Âu luôn muốn giữ những cái quy cũ để mục đích trục lợi, chậm thay đổi dẫn đến nền kinh tế bị lạc hậu.
Những cải tiến khoa học kỹ thuật của những nhà khoa học người Liên Xô không được trọng dụng và bị đánh cấp bởi các nước tư bản một cách trái phép. Công cuộc đưa công nghệ vào sản xuất của Đảng và nhà nước Liên Xô với các nước Đông Âu rất chậm chạp, đến những năm 60 trong khi thế giới đã có những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, đưa những thành tựu trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào trong tất cả các lĩnh vực sản xuất thì ở Liên Xô vẫn còn sử dụng nhiều công nghệ cũ, dẫn đến tình trạng thua kém và lạc hậu diễn ra. Cùng với việc không chú trọng công cuộc hiện đại hóa sản xuất, làm các chế độ hậu đãi nhân tài của Liên Xô và các nước Đông Âu cùng với đó cũng bị hạn chế. Hầu hết Đảng và Nhà nước cho các chế độ ưu đãi điều được ưu tiên đến cán bộ lãnh đạo, còn các cống hiến của các nhà khoa học, các người có sự ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế bị lãng quên.
Nhà nước Liên Xô và các nước Đông Âu đã thực hiện cào bằng, không khuyến khích các hoạt động, các thành tựu sáng tạo có ích cho đất nước, không gắn cơ chế thu nhập đúng với thành tựu cống hiến. Bốn là, Liên Xô quá ưu tiên phát triển công nghiệp quốc phòng trong cuộc chiến tranh lạnh với Hoa Kỳ, coi nhẹ nông nghiệp và công nghiệp tiêu dùng. Từ đó, họ đã tự biến mình thành một quốc gia chỉ mạnh về lực lượng quân đội và vũ khí, nhưng người dân lại không có lương thực, không có sản phẩm tiêu dùng hằng ngày. Nền nông nghiệp và công nghiệp tiêu dùng ở đây không đủ sức cung ứng sản phẩm cho nhân dân.
Vậy nên vấn đề nghiêm trọng mà Liên Xô đã vấp phải là tình trạng 15 khan hiếm hàng hóa nhưng nhà nước vẫn tập trung tiềm lực vào quân sự, đã gây nên sự bất ổn trong nội bộ đất nước. Hoàn cảnh này đã tạo cơ hội cho các thế lực thù địch quấy phá, thực hiện chiêu trò “diễn biến hòa bình” để ngày càng khoét vào vết thương của hệ thống các nước chủ nghĩa xã hội vốn đang gặp nhiều vấn đề kinh tế và đời sống.