CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO HOÁ TÀI KHOẢN VỐN 1. KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỰ DO HOÁ TÀI KHOẢN VỐN 1. Khái niệm tài khoản vốn. Tài khoản vốn (TKV), hay còn gọi là cán cân vốn, là một bộ phận trong cán cân thanh toán của một quốc gia, nó ghi lại tất cả những giao dịch về vốn và tài sản (gồm tài sản thực hay tài sản tài chính) giữa người cư trú với người không cư trú.
Tài khoản vốn bao gồm: - Chuyển giao vốn bao gồm các khoản cho, tặng (bằng tiền hoặc bằng hiện vật) giữa người cư trú và người không cư trú cho mục đích đầu tư. Chuyển giao vốn bằng hiện vật bao gồm: chuyển giao quyền sở hữu một tài sản cố định hoặc xoá một khoản nợ. Chuyển giao vốn bằng tiền thường gắn với việc mua tài sản cố định như viện trợ để xây dựng cơ sở hạ tầng. - Mua và bán các tài sản phi tài chính, phi sản xuất.
Đây là những tài sản không do quá trình sản xuất tạo ra cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình. - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà một đơn vị là người cư trú của một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) đầu tư vào một đơn vị là người cư trú của một nền kinh tế khác (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) với mục đích thu được lợi ích lâu dài từ hoạt động đầu tư này. - Đầu tư vào giấy tờ có giá là hình thức đầu tư vào các cổ phiếu, chứng khoán nợ dưới dạng trái phiếu dài hạn, trái phiếu ngắn hạn, các công cụ của thị trường tiền tệ, các công cụ tài chính phái sinh. - Đầu tư khác là hạng mục ghi chép tất cả các giao dịch không được coi là đầu tư trực tiếp, đầu tư vào các giấy tờ có giá hoặc tài sản dự trữ, bao gồm các giao 5 dịch về tín dụng thương mại, sử dụng tín dụng của IMF và các khoản vay từ IMF, các khoản tín dụng khác, tiền và tiền gửi, các tài sản có và tài sản nợ khác, thường là các khoản phải thu, phải trả.
- Tài sản dự trữ là các công cụ tài chính do NHTW kiểm soát và có thể sử dụng bất cứ lúc nào để tài trợ trực tiếp cho những mất cân đối trong cán cân thanh toán của một nước, hoặc can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm tác động đến tỷ giá hối đoái và cho một số mục đích khác như để gây dựng lòng tin vào đồng bản tệ và nền kinh tế, dùng làm vật thế chấp để vay nước ngoài. Khái niệm tự do hoá tài khoản vốn. Tự do hoá tài khoản vốn là việc tiến hành chuyển đổi tự do các tài sản chính trong nước thành tài sản tài chính ở nước ngoài, và ngược lại, theo tỷ giá hối đoái do thị trường quy định. Tự do hoá tài khoản vốn làm cho vốn tự do luân chuyển qua biên giới các quốc gia, giúp cho nền kinh tế trong nước trở nên linh hoạt hơn, hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và thế giới.
Song, quá trình tự do hoá tài khoản vốn cũng làm cho nền kinh tế các nước này trở nên dễ bị tổn hương hơn trước các cú sốc kinh tế khu vực và toàn cầu. Nghiên cứu về các cuộc khủng hoảng tài chính trong thời gian gần đây có thể thấy rõ nguyên nhân cơ bản của các cuộc khủng hoảng tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với các biện pháp tự do hoá tài chính nói chung mà một trong những nội dung quan trọng của quá trình này là việc tự do hoá tài khoản vốn. Các quốc gia gặp khủng hoảng thường là do đã lựa chọn một tiến trình tự do hoá không phù hợp với trình độ phát triển và chưa chuẩn bị tốt cho việc đón nhận và thích ứng với quá trình tự do hoá tài khoản vốn. Do đó, việc thiết lập một lộ trình cũng như nội dung tự do hoá tài khoản vốn cho phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và thị trường tài chính quốc tế nói riêng của Việt Nam trong thời gian tới.
Các nội dung của tự do hoá tài khoản vốn được xem xét ở 6 lĩnh vực bao gồm: 6 Thứ nhất, khả năng chuyển đổi tiền tệ đối với các giao dịch qua tài khoản vãng lai. Giao dịch vãng lai chủ yếu là các thanh toán gắn liền với xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Tự do chuyển đổi đồng tiền trong giao dịch vãng lai gắn với tự do hoá thương mại. Để thúc đẩy trao đổi hàng hoá và dịch vụ, IMF yêu cầu các nước hội viên phải tự do hoá giao dịch vãng lai, và đây cũng là điều kiện tiên quyết để một nước có thể gia nhập WTO.
Tự do chuyển đổi đồng tiền đối với các giao dịch vãng lai được hiểu là: không có những hạn chế việc đáp ứng các nhu cầu đổi nội tệ ra ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài phục vụ việc thanh toán cho bên cung ứng hàng hoá nước ngoài (nhà xuất khẩu) hoặc thanh toán cho ngươờ cung cấp dịch vụ nước ngoài; không cản trở việc nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhượng lợi nhuận về nước từ hoạt động kinh doanh ở nước sở tại; để cho tổ chức cá nhân trong nước tự do đổi nội tệ ra ngoại tệ, mang ra nước ngoài chi tiêu cho cá nhân. Thứ hai, luồng vốn vào là các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bao gồm vấn đề chuyển tiền và rút vốn của quỹ đầu tư, trả cổ tức, thanh toán hoàn trả các khoản vay trực tiếp với nước ngoài của các dự án FDI. Đây cũng là dòng vốn đầu tư vào quốc gia nhằm mục đích sở hữu và nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động vào quốc gia nhằm mục đích sở hữu và nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế nội địa. FDI chủ yếu liên quan đến các giao dịch trên tài sản thực.
Khi dòng vốn đầu tư quốc tế chảy vào một nước thì FDI là dòng vốn ít bất ổn nhất do dòng vốn này phải tốn nhiều chi phí để có thể rút vốn về và do đó nó có liên quan đến những điều kiện và nền tảng dài hạn hơn là những dao động ngắn hạn. Thứ ba, luồng vốn FDI ra nước ngoài, bao gồm cả việc mua sắm của các công dân nước sở tại. Thứ tư, luồng vốn vào được đầu tư theo danh mục qua thị trường chứng khoán, bao gồm vấn đề chuyển tiền vào và rút vốn ra, vay nợ, cổ phần, cho vay ngoại tệ đối với công dân nước sở tại. Đây là dòng vốn cổ phần đầu tư gián tiếp, bao gồm dòng vốn vay nước ngoài của chính phủ hoặc các doanh nghiệp trong nước và dòng vốn đầu tư cổ phần được tạo thành từ hoạt động của các quỹ đầu tư 7 quốc tế vào các tài sản tài chính nội địa.
Đây là dòng vốn rất nhạy cảm vơớ tỷ suất hoàn vốn ngắn hạn. Hơn nữa, không như những nhà đầu tư FDI, những nhà đầu tư gián tiếp có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư cổ phiếu hoặc trái phiếu của họ rất dễ dàng thậm chí ở những thị trường khác nhau. - Luồng vốn ra được đầu tư theo danh mục qua thị trường chứng khoán, vấn đề sở hữu trái phiếu bằng đồng nội tệ của người nước ngoài và luồng vốn ra của các khoản vay bằng ngoại tệ. - Tất cả các hạn chế còn duy trì đối với các giao dịch qua biên giới của công dân nước sở tại.
Sự cần thiết khách quan phải tự do hoá tài khoản vốn - Tự do hoá tài khoản vốn giúp các luồng tài khoản vốn và tài chính được lưu thông tự do giữa các nước, từ đó giúp các nhà đầu tư đa dạng hoá các danh mục nắm giữ tài sản, giảm thiểu rủi ro. Hơn nữa, việc tự do hoátài khoản vốn còn góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trên phạm vi toàn cầu. - Việc tự do chuyển đổi các tài sản tài chính sẽ làm giảm sức ép về khả năng thanh khoản của tài sản. Ở nhiều nước đang phát triển, nhiều loại tài sản chính có tính lỏng tương đối thấp, khiến cho việc nắm giữ các tài sản dự trữ thanh khoản của nhiều tổ chức kinh tế, nhất là các ngân hàng, gặp nhiều khó khăn.
Việc tự do hoátài khoản vốn cho phép các tài sản tài chính được lưu thông tự do giữa người cư trú và không cư trú sẽ giúp làm giảm sức ép về khả năng thanh khoản của các tổ chức kinh tế. - Tự do hoá tài khoản vốn góp phần tiết giảm chi phí dịch chuyển vốn quốc tế. Quá trình tự do hoátài khoản vốn sẽ làm tăng tính đa dạng của các luồng chu chuyển vốn, phá vỡ cấu trúc hệ thống tài chính nội địa thông qua sự cạnh tranh quyết liệt của các thể chế tài chính, chất lượng các tài sản tài chính sẽ ngày càng được cải thiện tích cực, chi phí giao dịch tất yếu sẽ giảm xuống. - Quá trình tự do hoá tài khoản vốn sẽ làm tăng lợi ích dưới hình thức di chuyển công nghệ và tài sản tri thức.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển. 8 - Sự di chuyển tự do của luồng vốn sẽ góp phần tạo ra sự hợp nhất của lãi suất và hệ thống thuế giữa trong nước và quốc tế. - Tự do hoá tài khoản vốn sẽ gây áp lực buộc các cơ chế chính sách trong nước phải từng bước được củng cố và hoàn thiện. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ TỰ DO HOÁ TÀI KHOẢN VỐN.
Lý thuyết bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming. Nội dung lý thuyết Lý thuyết bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity (hay Inconsistent Trinity hay Triangle of Impossibility)) là một lý thuyết nền tảng của các chính sách kinh tế quốc tế. Lý thuyết phát biểu rằng: một quốc gia không thể thực hiện được đồng thời 3 mục tiêu chính sách vĩ mô là: - Cố định tỷ giá hối đoái. - Tự do hóa dòng vốn.
- Thực hiện chính sách tiền tệ độc lập. Một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3 mục tiêu này.