CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO VIỆC XÂY DỰNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA 1. Cơ sở lý luận về tự chủ tài chính của Vườn quốc gia 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm tự chủ tài chính Tự chủ (autonomy) Tự chủ (autonomy), theo Từ điển tiếng Anh Oxford 2004 là nói đến trạng thái chất lượng của một đối tượng hoặc một đơn vị như là nhà nước, chính quyền địa phương, một tổ chức, một cơ quan (Oxford 2004).
Ở Việt Nam, khái niệm Tự chủ được biên soạn theo từ điển Tiếng Việt năm 2010, giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối (Trần Đức Cân 2012). TCTC: TCTC đề cập đến khả năng của một tổ chức trong việc kiểm soát các quyết định tài chính và nguồn lực mà không có sự can thiệp đáng kể từ bên ngoài. Nó liên quan đến quyền tạo thu nhập, phân bổ ngân sách theo nhu cầu và mục tiêu riêng của tổ chức. Thompson (2019), mở rộng hơn nữa khái niệm TCTC là “sức mạnh của một tổ chức trong việc tạo ra và duy trì doanh thu của chính mình, đưa ra các quyết định tài chính và phân bổ nguồn lực theo các ưu tiên riêng của tổ chức đó”.
Định nghĩa này nhấn mạnh khả năng của tổ chức trong việc tạo ra doanh thu và đưa ra quyết định mà không có sự can thiệp từ bên ngoài, nhấn mạnh việc kiểm soát các nguồn tài chính. Xét trên góc độ quản lý tài chính, TCTC là việc cơ quan quản lý cấp trên (chủ thể quản lý) cho phép đơn vị cấp dưới (chủ thể bị quản lý) được phép chủ động điều hành, tự quyết các hoạt động tài chính trong khuôn khố pháp luật về quản lý tài chính với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. TCTC 8 cho phép các tổ chức đa dạng hóa nguồn thu, đầu tư một cách chiến lược, phát triển thể chế và đảm bảo tính ổn định lâu dài. Quyền TCTC: Smith (2020) định nghĩa quyền TCTC là “quyền tự do của một tổ chức trong việc kiểm soát và quản lý các nguồn tài chính của mình một cách độc lập mà không bị ảnh hưởng hoặc ràng buộc quá mức từ bên ngoài”.
Định nghĩa này nhấn mạnh sự độc lập và quyền hạn của các tổ chức trong việc quản lý tài chính của họ. Tự chủ tài chính trong các tổ chức công Khái niệm tự chủ của tổ chức công được đưa ra lần đầu bởi Clark (1984), đặt quyền lực của tổ chức công cấp dưới (chính quyền địa phương) trong mối quan hệ với cấp chính quyền cao hơn, trong đó, quyền tự chủ của tổ chức công cấp dưới xác định theo hai nguyên tắc cụ thể: một là quyền đề xuất, khởi xướng (quyền của chính quyền cấp dưới trong việc tự điều chỉnh và lập pháp phục vụ lợi ích và mục tiêu riêng của họ hoặc quyền hành động để thực hiện các nghĩa vụ chính đáng); hai là quyền miễn trừ (quyền của chính quyền cấp dưới hành động mà không bị giám sát bởi cấp cao hơn). TCTC được đặc trưng bởi sự kiểm soát của tổ chức đối với các quyết định và nguồn lực tài chính, cho phép tổ chức tạo thu nhập, phân bổ vốn và thiết lập các ưu tiên ngân sách dựa trên đặc thù riêng của họ. Cơ chế TCTC của tổ chức công: Cơ chế TCTC của tổ chức công là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện quy định về danh mục sự nghiệp công; giá, phí và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công; phân loại mức độ TCTC; tự chủ sử dụng nguồn tài chính; tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết; quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác có liên quan (Chính phủ 2021).
Ý nghĩa của tự chủ tài chính trong tổ chức công Tầm quan trọng của TCTC có thể được hiểu qua lăng kính của nhiều nghiên cứu khác nhau. Adams (2021), lập luận rằng quyền TCTC đóng một vai 9 trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự đổi mới và thích ứng của tổ chức. Các tổ chức có quyền TCTC có quyền tự do đầu tư vào các chương trình, công nghệ và sáng kiến nghiên cứu mới nhằm thúc đẩy sự đổi mới và nâng cao khả năng cạnh tranh của tổ chức. Brown (2017) nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền TCTC trong việc nâng cao hiệu suất và hiệu quả của tổ chức.
Nghiên cứu cho thấy rằng các tổ chức có quyền TCTC lớn hơn sẽ linh hoạt điều chỉnh nguồn tài chính phù hợp với các ưu tiên chiến lược của họ, từ đó cải thiện kết quả hoạt động. Hơn nữa, Anderson (2019), nhấn mạnh tác động của quyền TCTC đối với trách nhiệm giải trình của tổ chức. Họ cho rằng các tổ chức có quyền TCTC có nhiều khả năng thiết lập các biện pháp quản lý tài chính hiệu quả hơn, đảm bảo tính minh bạch trong phân bổ và báo cáo nguồn lực. Điều này nâng cao trách nhiệm giải trình của tổ chức đối với các bên liên quan và với cơ quan quản lý.
Cụ thể: - Đa dạng hóa nguồn lực: Smith (2018) nhấn mạnh rằng quyền TCTC cho phép các tổ chức phản ứng nhanh chóng với các xu hướng thị trường và các thay đổi trong bối cảnh thực tế. Trong đó, với quyền TCTC, các tổ chức có thể khám phá các nguồn tài chính đa dạng ngoài các kênh truyền thống. Bằng cách đa dạng hóa nguồn thu, các tổ chức giảm sự phụ thuộc vào nguồn ngân sách duy nhất (từ Chính phủ) và tăng cường sự ổn định tài chính của chính họ. Phù hợp với điều này, Johnson (2019), nhấn mạnh rằng quyền TCTC cho phép các tổ chức tìm kiếm các nguồn tài trợ thay thế như từ các khu vực tư nhân, cộng đồng, các quan hệ đối tác công tư.
- Thúc đẩy sự đổi mới và thích ứng Quyền TCTC cũng tạo cơ hội cho các tổ chức đầu tư vào cơ sở vật chất hạ tầng, nguồn nhân lực từ đó phục vụ cho các mục tiêu của tổ chức. - Trách nhiệm giải trình và minh bạch: 10 Quyền TCTC đi kèm với đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính. Các tổ chức phải thiết lập các quy chế quản lý tài chính, tuân thủ các quy định. Điều này thúc đẩy niềm tin giữa các bên liên quan, nâng cao uy tín của tổ chức và tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý giám sát hiệu quả (Belal, Cooper et al.
2013, Sokol, Santos-Rodriguez et al. 2022) Smithson (2017) lập luận rằng quyền TCTC khuyến khích các tổ chức triển khai các hệ thống và thông lệ quản lý tài chính mạnh mẽ. Điều này bao gồm việc tiến hành kiểm toán thường xuyên, đảm bảo tuân thủ các quy định tài cính và cung cấp báo cáo tài chính minh bạch. - Tính bền vững lâu dài: Quyền TCTC cho phép các tổ chức lập kế hoạch và quản lý nguồn tài chính của mình với tầm nhìn dài hạn.
Họ có thể áp dụng các chiến lược để đảm bảo sự bền vững tài chính, như trích lập các quỹ, tham gia vào các hoạt động đầu tư thận trọng và lập kế hoạch cho các trường hợp dự phòng trong tương lai. Điều này cho phép các tổ chức vượt qua các thách thức tài chính, duy trì sự ổn định và tiếp tục thực hiện sứ mệnh và dịch vụ của mình trong thời gian dài (Thompson 2016). Tóm lại, quyền TCTC mang lại cho tổ chức sự độc lập và quyền hạn để đưa ra các quyết định tài chính phù hợp với mục tiêu và ưu tiên của họ. Quyền TCTC cho phép tổ chức đa dạng hóa các nguồn tài trợ, đầu tư một cách chiến lược, thúc đẩy phát triển và đảm bảo tính bền vững.
Bằng cách nắm lấy quyền TCTC, các tổ chức có thể nâng cao hiệu quả, khả năng thích ứng và đạt những thành công. Mục tiêu của tự chủ tài chính đối với các tổ chức công Mục tiêu của TCTC đối với các tổ chức công được thể hiện ở các khía cạnh sau: - Thứ nhất, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức công trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực 11 tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu, nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động; phát huy tính sáng tạo, năng động, xây dựng “thương hiệu riêng” cho đơn vị mình. - Thứ hai, thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN. - Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với ĐVSNCL, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn.
Tự chủ tài chính tại các Vườn quốc gia 1. Khái niệm và đặc điểm của Vườn quốc gia Khái niệm VQG VQG là khu vực được thành lập để bảo vệ đa dạng sinh học cấu trúc sinh thái cơ bản, hỗ trợ các quá trình môi trường và thúc đẩy giáo dục và giải trí. VQG được xác định rõ ràng về không gian, được công nhận, quản lý thông qua luật pháp và các phương tiện hiệu quả khác, để đạt được mục tiêu lâu dài bảo tồn thiên nhiên với các dịch vụ HST liên quan và giá trị văn hóa (Dudley 2008). Theo phân hạng hệ thống KBT của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), Vườn quốc gia phân hạng II là khu vực được quản lý chủ yếu để bảo vệ hệ sinh thái và du lịch giải trí.
VQG là vùng đất liền và/hoặc biển tự nhiên được hoạch định để (a) bảo vệ tính toàn vẹn của một hay nhiều HST cho các thế hệ hôm nay và mai sau, (b) không được khai thác hay chiếm đoạt làm tổn hại đến mục tiêu đã hoạch định và (c) để làm cơ sở cho các hoạt động vui chơi, giải trí, khoa học, giáo dục, tinh thần của các du khách, tất cả các hoạt động này phải hài hòa giữa văn hóa và môi trường.