CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG TUYỂN SINH VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI HỌC 1.1 Hoạt động truyền thông tuyển sinh Truyền thông Truyền thông (Communication) là sự giao tiếp giữa con người với con người hay được khái quát là quá trình truyền đạt, chia sẻ thông tin, gửi gắm những thông điệp vào mục đích giao tiếp nhất định giữa các bên tham gia. Theo Kotler (2007), “truyền thông (marketing communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm”. Truyền thông và thông tin phản hồi trong hệ thống truyền thông được thực hiện trong sơ đồ hình 1.1 như sau: Hình 1.
Truyền thông và liên hệ ngược trong hệ thống truyền thông (Philip Kotler, 2007) Truyền thông là một lĩnh vực phổ biến có sự tác động và chi phối tới xã hội loài người và có liên quan tới các cá thể trong xã hội. Truyền thông là “quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, v.v chia sẻ kỹ năng hoặc kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của nhóm, của cá nhân, của cộng đồng và xã hội.” Còn theo quan niệm của Dean. Barnlund (1964), truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có hành vi hiệu quả hơn. Theo Frank Dance (1970), Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người.
Theo quan niệm này, quá trình truyền thông có thể làm gia tăng tính độc quyền hoặc phá vỡ tính độc quyền. Schachter, Truyền thông là một quá trình qua đó quyền lực được thể hiện và tính độc quyền tăng lên. Điều này phụ thuộc vào mục đích và môi trường, cũng như phương thức truyền thông. Theo Gerald Miler (1966), về cơ bản truyền thông quan tâm nhất đến hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ.
Theo Thanh Tuấn (2020), truyền thông (communication) là “hoạt động liên quan đến các vấn đề về giao tiếp (communicate) và chia sẻ thông tin. Cụ thể, hoạt động truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác với nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung. Truyền thông chính là một phần trong Promotion (xúc tiến) – một chữ P trong 4Ps. Người làm Truyền thông không phải là làm marketing, vì các hoạt động truyền thông không trực tiếp ảnh hưởng đến sản phẩm hay giá cả".
Hay nói cách khác, về bản chất truyền thông và quá trình chia sẻ trao đổi hai chiều diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông. Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra. Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông; về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng.
Hoạt động truyền thông Hoạt động truyền thông là quá trình chuyển đạt thông tin, ý kiến, hoặc thông điệp từ một nguồn đến một mục tiêu hoặc công chúng cụ thể. Hoạt động này có thể diễn ra qua nhiều phương tiện và kênh truyền thông khác nhau, bao gồm mạng Internet, truyền hình, radio, báo chí, quảng cáo, sự kiện, truyền thông xã hội, và nhiều hình thức khác. Mục tiêu của hoạt động truyền thông có thể rất đa dạng, bao gồm: ▪ Thông tin và giáo dục: Truyền thông có thể được sử dụng để cung cấp thông tin và kiến thức cho mục tiêu hoặc công chúng, như hướng dẫn, bản tin, tài liệu học tập, và thông tin về sự kiện. 2 ▪ Thuyết phục và thúc đẩy: Truyền thông có thể được sử dụng để thuyết phục người nghe hoặc người xem về một sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, hoặc quan điểm cụ thể.
Điều này thường thấy trong quảng cáo và chiến dịch tiếp thị. ▪ Tạo ấn tượng và hình ảnh: Truyền thông có thể giúp xây dựng hình ảnh, thương hiệu, và ấn tượng đối với một tổ chức, sản phẩm, hoặc cá nhân. Điều này có thể thông qua quảng cáo sáng tạo, tiếp thị trải nghiệm, và tạo nên một cái nhìn tích cực. ▪ Giải trí: Truyền thông cũng có mục tiêu giải trí.
Phim, âm nhạc, chương trình truyền hình, và nhiều hình thức giải trí khác đều là một phần của hoạt động truyền thông. ▪ Xây dựng và duy trì mối quan hệ: Truyền thông có thể được sử dụng để xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng, đối tác, và cộng đồng. Điều này thường thấy trong truyền thông xã hội và chiến dịch quan hệ công chúng. ▪ Mục tiêu xã hội và chính trị: Truyền thông cũng có thể được sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu xã hội hoặc chính trị, như chiến dịch cộng đồng, hoạt động chính trị, và chiến dịch từ thiện.
Tùy thuộc vào mục tiêu cụ thể, hoạt động truyền thông có thể sử dụng các kỹ thuật và phương tiện khác nhau để đạt được mục tiêu của mình và tạo tác động mong muốn đối với đối tượng hoặc công chúng mục tiêu. Hoạt động Truyền thông có thể tiếp cận theo truyền thông marketing: ▪ Truyền thông marketing (Marketing Communications) bao gồm toàn bộ các hoạt động truyền thông liên quan đến việc quảng cáo, tiếp thị, và xây dựng thương hiệu. ▪ Hoạt động truyền thông là một phần của truyền thông marketing, bao gồm việc tạo ra và truyền tải thông điệp, thông tin, và nội dung để tiếp thị sản phẩm, dịch vụ, hoặc thương hiệu cụ thể. ▪ Truyền thông marketing bao gồm quảng cáo, quan hệ công chúng, tiếp thị trực tuyến, truyền thông xã hội, quảng cáo ngoài trời, truyền thông truyền hình và radio, v.
Nhưng truyền thông không chỉ là quảng cáo mà còn liên quan đến việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng, tạo nội dung, 3 tham gia trên các nền tảng trực tuyến và xã hội, và tạo sự nhận biết về thương hiệu. Theo Philip Kotler (2017), truyền thông marketing là “các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng và mua sản phẩm”. Theo Trương Đình Chiến (2016), truyền thông marketing là “toàn bộ hoạt động nhằm cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu và bản thân doanh nghiệp cho khách hàng nhằm tạo sự nhận biết, xây dựng lòng tin và thúc đẩy hoạt động mua của họ”. Nguyễn Bách Khoa (2011) quan niệm, truyền thông marketing “là một lĩnh vực hoạt động marketing chuyên biệt và có chủ đích hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập mối quan hệ đồng thuận nhất giữa công ty và bạn hàng với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm, nhằm phối thuộc triển khai năng động chiến lược và chương trình marketing-mix đã lựa chọn”.
Tuyển sinh Theo Hoàng Phê (2017), Tuyển sinh là toàn bộ các hoạt động nhằm lựa chọn được những học sinh/sinh viên đủ điều kiện nhập học tại cơ sở đào tạo dựa trên các quy định đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công nhận. Tuyển sinh đại học chính quy là việc tuyển người học cho chương trình đào tạo hệ đại học chính quy, với đối tượng chủ yếu là học sinh lớp 12 sắp thi đại học hay thí sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng chưa có cơ hội học tập cao hơn và một phần nhỏ các đối tượng khác muốn nâng cao kiến thức chuyên môn. Tuyển sinh là quá trình xác định và chọn lọc học sinh, sinh viên hoặc người học vào các cơ sở giáo dục, trường học, hoặc chương trình đào tạo cụ thể. Quá trình này thường bao gồm việc đánh giá năng lực, kiến thức, hoặc các tiêu chí khác để xác định ai sẽ được nhận vào học tại một cơ sở giáo dục cụ thể.
Tuyển sinh có thể áp dụng cho các cấp học khác nhau, bao gồm mầm non, tiểu học, trung học, đại học, sau đại học, và các chương trình đào tạo nghề. Công tác tuyển sinh là khâu đầu tiên quyết định thành công của quá trình giáo dục, là cơ sở để thực hiện các hoạt động khác tiếp theo như giảng dạy, kiểm tra đánh giá chất lượng 4 Theo Luật Giáo dục Việt Nam, cụ thể là Luật Giáo dục số 86/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, ngày 25 tháng 11 năm 2015, tuyển sinh là quá trình xác định và chọn lọc học sinh, sinh viên, người học vào các cơ sở giáo dục để tham gia học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học và đào tạo nghề. Luật Giáo dục đề cập đến quy trình tuyển sinh, nguyên tắc tuyển sinh, quản lý tuyển sinh, và các quy định liên quan đến việc chọn lựa người học tham gia vào các cơ sở giáo dục và đào tạo. Cụ thể, quá trình tuyển sinh trong Luật Giáo dục Việt Nam bao gồm các bước như tổ chức tuyển sinh, xác định nguyên tắc và tiêu chí tuyển sinh, thông tin tuyển sinh, kỳ thi tuyển sinh, hồ sơ đăng ký tuyển sinh, xét tuyển và công bố kết quả, đăng ký nhập học, và hướng dẫn và tư vấn tuyển sinh.
Hoạt động tuyển sinh gồm nhiều bước: cung cấp thông tin, nhận hồ sơ thí sinh, tổ chức thi tuyển hoặc chọn lọc hồ sơ, chấm và công bố điểm thi, chọn lọc thí sinh, thông báo cho thí sinh để đi đến mục tiêu cuối cùng là những học sinh phù hợp nhập học tại cơ sở đào tạo. Quá trình tuyển sinh thường thực hiện thông qua các kỳ thi hoặc đánh giá, việc nộp hồ sơ đăng ký, và các quy trình xét tuyển. Mục tiêu của quá trình tuyển sinh là đảm bảo rằng các học sinh hoặc người học được chọn lựa đủ năng lực và phù hợp với yêu cầu của chương trình học tập hoặc đào tạo cụ thể. Truyền thông tuyển sinh Truyền thông tuyển sinh là hoạt động xây dựng các chiến lược, lập kế hoạch truyền thông nội bộ và truyền thông bên ngoài nhằm không ngừng quảng bá thương hiệu và nâng cao uy tín của trường.