mở đầu cho sự thắng lợi căn bản của chủ nghĩa tư bản. Kết thúc của triết học Tây Au cận đại là nền triết học cổ điển Đức với những đại biểu điển hình như: I. Triết học cổ điển Đức được coi là đỉnh cao của sự phát triển triết học trước Mác. Trong triết học này, nếu như Canto đặt ra 04 nhiệm vụ chủ yếu của triết học là về tri thức, đạo đức, mỹ học và con người, đặc biệt van dé con người là trọng tâm cua đối tượng triết học, thì Héghen lại coi triết học là khoa học của các khoa học.
Hêghen cũng chính là nhà triết học cuối cùng của lịch sử triết học khi đưa ra quan niệm có tính hạn chế này. Chỉ khi triết học Mác ra đời xem triết học với tư cách là một khoa học thì đối tượng nghiên cứu của nó mới được giải quyết một cách triệt đề. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt dé với quan niệm triết học là “khoa hoc của các khoa học”, triết học mác-xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Triết học nghiên cứu thế giới băng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thé đó. Điều đó chỉ có thé thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học. Triết học là sự diễn tả thé giới băng lý luận.
Chính vi tính đặc thù 16 như vậy của đối tượng triết học mà van dé tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay. Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình, hạn chế triết học chỉ còn là sự mô tả những hiện tượng tỉnh thần hay phân tích ngữ nghĩa và chú giải văn bản. Mặc dù vậy, cái chung về đối tượng của các học thuyết triết học vẫn là nghiên cứu những vấn đề bản chất của thế giới, của giới tự nhiên, của xã hội và con người; là nghiên cứu mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh. Vấn đề cơ bản của triết học và chức năng cơ bản của triết học a.
Vấn đề cơ bản của triết học Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết nhiều van đề có liên quan với nhau, tuy nhiên trong số đó có nội dung được coi là quan trọng nhất mà việc giải quyết nó được coi là điều kiện xuất phát dé thực hiện những vấn đề còn lại, đó chính là vấn đề cơ bản của triết học. Vẫn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, hay là mối quan hệ giữa ý thức và vật chất, giữa tỉnh thần và giới tự nhiên. Theo Angghen: “Van đề cơ bản lớn của mọi triết hoc, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với ton tại”, ! C.Angghen, 7oàn tap, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1995, tập 21, tr.
17 Sở di mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại được xem là van đề cơ bản của triết học là bởi vì: trong lịch sử triết học từ thời kỳ Cổ đại cho đến nay bất kỳ trường phái triết học nào cũng đều phải trực tiếp hay gián tiếp dé cập đến mối quan hệ nay; giải quyết van dé này là cơ sở dé giải quyết tat cả các van đề triết học khác còn lại. Hơn nữa, từ việc giải quyết mối quan hệ này đã hình thành các trường phái triết học khác nhau: chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm, nhị nguyên luận, thuyết khả tri và thuyết bat khả tri. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt là bản thể luận và nhận thức luận. Nội dung của hai mặt đó được thé hiện như sau: Mặt thứ nhất (bản thể luận): Giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai (nhận thức luận): Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trả lời cho hai van đề trên là cơ sở dé phân loại các trường phái và học thuyết khác nhau trong lịch sử triết học.
Chủ nghĩa duy vật cho răng, vật chất có trước và quyết định ý thức, còn ý thức là có sau và được sinh ra từ vật chat. Chủ nghĩa duy tâm cho rang, ý thức có trước và quyết định vat chất, còn vật chất có sau và được sinh từ ý thức. Ngoài hai trường phái nhất nguyên luận (duy vật và duy tâm), còn có trường phái nhị nguyên luận coi ý thức và vật chất là hai yếu tố tồn tại song song, độc lập với nhau, không phụ thuộc vào nhau. Thuyết Khả tri cho rằng con người có thê nhận thức được thế giới.
Còn thuyết Bat khả tri khang định con người không thé nhận thức được bản chất thế giới, mà chỉ nhận thức được hiện tượng của thế giới mà thôi. Ngoài ra, còn có Chủ nghĩa hoài nghi, thừa nhận 18 khả năng nhận thức thế giới của con người nhưng nghỉ ngờ tính chính xác của những tri thức mà nó thu nhận được. Ngày nay, nhiều trường phải triết học phương Tây hiện đại phủ nhận vấn đề cơ bản của triết học. Tuy nhiên, cudi cùng dù trực tiếp hay gián tiếp thì các trường phái này cũng đều phải đề cập đến nó.
Chức năng cơ bản của triết học - Chức năng thé giới quan của triết học Khái niệm thé giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm chung của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sông và vị trí của con người trong thế giới đó. Trong thế giới quan có sự kết hợp giữa tri thức và niềm tin. Trong đó tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan. Tuy nhiên, tri thức đó chỉ trở thành yếu tổ quan trọng của thé giới quan khoa học khi nó là đúng đắn và trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người.
Các loại hình thế giới quan: Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan. Dựa vào quá trình và trình độ phát triển của thế giới quan, người ta phân chia ba loại hình cơ bản: thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của con người ở đầu thời kỳ cộng sản nguyên thủy. Ở thời kỳ này, các yếu tô tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo.
của con người kết hợp với nhau để thể hiện sự hiểu biết, quan niệm về thế giới bên ngoài. Nhìn chung thé giới quan này có yếu tố hợp lý làm cơ sở cho thế giới quan đúng đắn sau này, nhưng về cơ bản nó mang nhiều yếu tố tưởng tượng, thêu dét nên không phản ánh đúng hiện thực khách quan. 19 Thế giới quan tôn giáo được hình thành cuối thời kỳ cộng sản nguyên thủy, khi đã có sự xuất hiện phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ. Trong thé giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lắn át cái thực, cái thần vượt trội cái người.
Thế giới quan triết học khác với huyền thoại và tôn giáo, triết học với tư cách là khoa học dựa vào khái niệm, phạm trù có tính khái quát cao trong quá trình nhận thức về thé giới. Điều đó có nghĩa là triết học thể hiện thế giới quan của mình dưới dạng hệ thông các khái niệm, phạm trù, quy luật đóng vai trò như những cấp độ, bậc thang trong quá trình nhận thức sâu sắc về ban chat của thé giới. Nếu thế giới quan được hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người, trong đó tri thức của các khoa học cụ thê là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niệm riêng biệt về từng yếu tô, bộ phận của thế giới, thì triết học với tư cách là khoa học, là một trong các hình thái ý thức xã hội đã tạo nên hệ thống lý luận bao gồm những quan niệm chung nhất về thế giới như là một chỉnh thé, hệ thống. Với những yếu tố tiến bộ như vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, giữ vai trò định hướng cho quá trình hình thành và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia trong lịch sử.
Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là những vấn đề thuộc về thế giới quan. Thế giới quan đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sông của con người và xã hội loài người. Tôn tại trong thế giới, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới xung quanh và bản thân mình. Những hiểu biết, quan niệm, tri thức này dần dần hình thành nên thế giới quan.
Từ thé giới quan được hình thành này trở thành nhân tố định hướng cho con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Hơn nữa, 20 thé giới quan triết học còn có vai trò xem xét bản thân chủ thé nhận thức dé xác định cho mình mục đích, ý nghĩa của cuộc sống và lựa chọn cách thức sống và hoạt động một cách đúng dan dé dat được chúng. Như vậy, thé giới quan triết học theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm quan niệm về tự nhiên, xã hội mà còn bao gồm cả quan niệm về con người. Với nghĩa đó, thế giới quan triết học bao gồm cả nhân sinh quan.
Thế giới quan triết học đúng đắn là cơ sở dé xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân, cũng như của mỗi cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Triết học được hình thành, phát triển dựa trên sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn, những thành tựu văn hóa, khoa học của con người trong quá trình lịch sử. Vì vậy nó trở thành hạt nhân lý luận của thế giới quan, định hướng cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.