phần mở đầu và phần kết luận, đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Chƣơng I Trật tự câu - tính hình tuyến của văn bản. Chƣơng II Trật tự câu trong vai trò liên kết văn bản Chƣơng III Trật tự câu trong vai trò tạo mạch lạc cho văn bản 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I TRẬT TỰ CÂU - TÍNH HÌNH TUYẾN CỦA VĂN BẢN I. VĂN BẢN VÀ NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 1.
Định nghĩa văn bản 1. Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về văn bản. Đáng chú ý là những định nghĩa sau đây: Văn bản "là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ đƣợc làm thành bởi một dây chuyền các phƣơng tiện có 2 trắc diện" (R. "Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng.
Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại nhƣ một mệnh đề hay một câu… Tốt hơn nên xem xét văn bản nhƣ là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa" (Halliday, 1976 và 1994). "Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo hoặc viết có đặc trƣng là tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của tác giả đối với điều đƣợc thông báo… Về phƣơng diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phƣơng tiện từ vựng - ngữ pháp" (L. "Tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp" (N. "Văn bản là bất kỳ một đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh".
"Văn bản là một đơn vị ngôn ngữ hành chức…". "Tốt nhất, nên nhìn nhận văn bản là một đơn vị ngữ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa; một đơn vị không phải thuộc hình thức mà thuộc ý nghĩa" (Halliday và Hassan). "Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc.
Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lƣới của những quan hệ và liên hệ ấy" (Trần Ngọc Thêm, 1985). Mặc dù mỗi tác giả định nghĩa văn bản theo một cách khác nhau, song tựu trung lại có thể thấy trong các định nghĩa ấy đều thống nhất với nhau ở chỗ: đều coi văn bản là sản phẩm ngôn ngữ, đƣợc hình thành từ các câu (hoặc phát ngôn) và có nội dung (thông báo) nhất định. Khái niệm văn bản đƣợc sử dụng trong luận văn này đƣợc hiểu theo các tiêu chí nhƣ sau: Về hình thức: Nó phải bao gồm một chuỗi câu, ít nhất là từ 2 câu trở lên.
Câu đầu tiên của văn bản là câu tự nghĩa (hiểu theo tiêu chí của Trần Ngọc Thêm, đó là câu hoàn chỉnh cả về hình thức và nội dung). Về nội dung: Các văn bản này phải đảm bảo có một nội dung thông tin nhất định (còn đƣợc gọi là chủ đề). Ví dụ: "Là con út trong một gia đình nông dân nghèo, các anh chị đều đã có gia đình ra ở riêng, còn anh Nhơn sống với cha mẹ già trên 70 tuổi. Nhà chỉ làm một công ruộng nên hàng ngày anh Nhơn phải đi làm thêm để phụ giúp gia đình.
Công việc đào mướn, giăng lưới, cắm câu mỗi ngày cũng chỉ kiếm 10.000 đồng không đủ để trang trải cuộc sống hay ốm đau bệnh tật của cha mẹ già. Vì thế mà gia đình anh nghèo đến nỗi không có tiền để câu điện thắp sáng trong nhà" (20.02) 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình thức của văn bản trên đây là 1 chuỗi gồm 4 câu kết hợp với nhau. Trong đó câu đầu tiên của văn bản là câu tự nghĩa. Tức là, câu này có thể tách ra độc lập một mình.
Bản thân câu này cũng chuyển tải một nội dung thông tin trọn vẹn mà không cần sự hỗ trợ của những câu khác. Nội dung của văn bản nói về cuộc sống nghèo khó của anh Nhơn và gia đình anh. Đặc trưng của văn bản Văn bản với tƣ cách là đối tƣợng của ngôn ngữ học sẽ có những đặc trƣng riêng của mình. Trong cuốn "Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn", tác giả Diệp Quang Ban đã chỉ ra 5 đặc trƣng của văn bản nhƣ sau: 2.
Yếu tố nội dung: Một văn bản đích thực bao giờ cũng phải chuyển tải một nội dung nhất định. Nội dung ở đây đƣợc gọi là đề tài hay chủ đề. Yếu tố cấu trúc: Mỗi văn bản đều có cách thức tổ chức hình thức cũng nhƣ nội dung sao cho phù hợp với phong cách chức năng và thể loại. Yếu tố mạch lạc và liên kết: Có sự nối kết đúng về nghĩa, về lôgic và chức năng giữa các bộ phận bên trong một văn bản với nhau và với ngữ cảnh bên ngoài văn bản - tức là có mạch lạc; có thể sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ để diễn đạt một số quan hệ nối kết nhất định giữa các bộ phận khác nhau bên trong một văn bản - tức là có liên kết.
Yếu tố chỉ lượng: Văn bản gồm nhiều câu - phát ngôn nối tiếp nhau. Yếu tố định biên: Văn bản có biên giới phía trái và biên giới phía phải, tạo nên tính trọn vẹn cho văn bản. Câu - đơn vị cấu tạo văn bản 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Định nghĩa câu 3.
Khi định nghĩa về câu, các nhà nghiên cứu thƣờng dựa vào những tiêu chí cụ thể nào đó. Dựa vào tiêu chí hình thức - ngữ pháp: câu đƣợc định nghĩa là một đơn vị ngữ pháp gồm một đến nhiều mệnh đề. Dựa vào tiêu chí chức năng: câu đƣợc định nghĩa là một đơn vị có 2 thành phần là cụm danh từ làm chủ ngữ và cụm động từ làm vị ngữ. Dựa vào tiêu chí ý nghĩa: câu phải diễn đạt một tƣ tƣởng trọn vẹn.
Trong các định nghĩa về câu, đáng chú ý là những định nghĩa sau đây: "Câu là một đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tƣ duy, thông báo, nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập" (Trung tâm KHXH và nhân văn, 2002). "Câu là một đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tƣ tƣởng tƣơng đối trọn vẹn có kèm theo thái độ của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ tƣởng, tình cảm với tƣ cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất" (Hoàng Trọng Phiến, 1991). Trong lĩnh vực văn bản, câu thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu đồng nhất với phát ngôn. Trần Ngọc Thêm trong "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" không định nghĩa thế nào là câu nhƣng lại đƣa ra ý kiến về câu nhƣ sau" "Mọi mối liên kết trong văn bản đều xuất phát từ những ngữ đoạn có hình thức hoàn chỉnh.
Và các ngữ đoạn này thƣờng tƣơng ứng với khái niệm câu. Nhƣng sự tƣơng ứng này lại thích hợp với kiểu định nghĩa câu theo mặt hình thức". 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở một chỗ khác, tác giả định nghĩa phát ngôn nhƣ sau: "Phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn, với cấu trúc và nội dung nhất định nào đó (đầy đủ hoặc không đầy đủ) đƣợc tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức. Ở dạng viết, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt phát ngôn…" Từ 2 cách hiểu trên đây của Trần Ngọc Thêm, chúng ta thấy tác giả đã đồng nhất câu với phát ngôn.
Và trong khi phân tích văn bản, tác giả dùng cả 2 thuật ngữ câu và phát ngôn. Diệp Quang Ban không sử dụng thuật ngữ phát ngôn mà sử dụng thuật ngữ câu. Tuy nhiên, ông lại giải thích rằng đó là câu - phát ngôn chứ không phải câu cấu trúc. Nhƣ vậy, câu dù đƣợc định nghĩa nhƣ thế nào đi chăng nữa thì nó vẫn là một đơn vị ngôn ngữ, tồn tại một cách hiển nhiên, có chức năng thông báo và là đơn vị cấu thành nên văn bản (đơn vị có chức năng thông báo lớn hơn câu).
Để đạt đƣợc mục đích giao tiếp thì bất cứ chuỗi câu hay văn bản nào đều phải là một tập hợp các câu liên kết với nhau theo chủ đề. Chính vì thế, việc nghiên cứu câu trong mối quan hệ với văn bản là điều hết sức cần thiết, bởi vì nằm trong một hệ thống, chúng luôn tác động lẫn nhau, đúng nhƣ nhà ngôn ngữ kiệt xuất F.de Saussure đã nêu: "Cái toàn thể có giá trị là do cái bộ phận của nó, và các bộ phận mà có giá trị cũng lại nhờ vị trí của nó trong cái toàn thể". Trong luận văn của chúng tôi, câu đƣợc nhận diện bằng cả dấu hiệu hình thức và nội dung. Về hình thức: Câu đƣợc hiểu là một ngữ đoạn có độ dài nhất định nằm giữa 2 dấu chấm câu.
Nó có thể hoàn chỉnh hoặc không hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về nội dung: Mỗi câu đều chuyển tải một nội dung thông tin nhất định, nội dung này do chủ đề của văn bản quy định. Ví dụ: "Sau khi tốt nghiệp trường Trung học An ninh nhân dân I năm 1986, anh Lục Quang Kiểm về nhận công tác tại công an huyện Hà Quảng (Cao Bằng). Từ tháng 7.1991 đến nay, anh được Ban giám đốc công an tỉnh Cao Bằng điều về nhận nhiệm vụ tại phòng Bảo vệ chính trị.
Anh đã trực tiếp cùng đồng đội khám phá nhiều vụ án phức tạp. Đặc biệt, đầu năm 2002, anh cùng đồng đội không nhận hối lộ 25 triệu đồng của tên Hà Văn Vi (sinh năm 1959) ở huyện Trùng Khánh trong khi các anh đang xét hỏi hắn" (15. Văn bản trên gồm 4 câu. Các câu này đều hoàn chỉnh về cấu trúc cú pháp.
Và mỗi câu đều có nội dung thông tin nhất định. Những khái niệm có liên quan đến văn bản. Liên kết là một thuộc tính rất quan trọng của văn bản, nó quyết định tới việc biến một chuỗi câu trở thành văn bản. Có thể hiểu một cách chung nhất về liên kết nhƣ sau: Liên kết là những mối quan hệ hình thức và nội dung của các câu trong văn bản.
Đơn vị tham gia liên kết văn bản rất phong phú. Nó có thể là từ, là ngữ, thậm chí cả một câu.