CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. GIỚI THIỆU VỀ SIÊU TỤ ĐIỆN 1. Cấu tạo của siêu tụ điện Siêu tụ điện, còn được gọi là tụ điện hóa, theo nguyên tắc lưu trữ năng lượng, siêu tụ điện có thể được phân thành ba loại chính: tụ tĩnh điện lớp kép (electrical double layer capacitors, EDLC), giả tụ điện (pseudocapacitors) và tụ điện lai (hybrid capacitors). Khác với tụ điện cổ điển có điện dung chỉ khoảng picoFara đến miliFara, siêu tụ điện, như tên gọi của nó, có điện dung lên đến hàng nghìn Fara đã được nhiều công ty trên thế giới chế tạo[6].
Sở dĩ siêu tụ điện đạt được điện dung cực lớn như vậy là nhờ sử dụng điện cực là các vật liệu có cấu trúc nano có diện tích bề mặt rất cao (lên đến hàng nghìn mét vuông trên 1 gram vật liệu) và khoảng cách của lớp điện môi rất mỏng (chỉ khoảng vài Å) (là khoảng cách giữa lớp điện tích hấp phụ lên bề mặt điện cực) nên đạt được điện dung rất cao. Các thành phần chính của siêu tụ điện là điện cực (gồm điện cực âm (anode) và điện cực dương (cathode)), chất điện phân (electrolyte) và màng ngăn (separator). Màng ngăn có tính thấm ion tức cho các ion dương và ion âm trong dung dịch điện phân đi qua dễ dàng, đồng thời cũng có khả năng cách điện giữa điện cực âm và điện cực dương (Hình 1. Ngoài ra, tấm kim loại thu điện tích (current collector) có vai trò vận tải các electron và lỗ trống đến điện cực dương và điện cực âm hiệu quả trong quá trình sạc và xả của siêu tụ điện.1 Cấu trúc của siêu tụ điện[7] Quá trình tích trữ năng lượng (trong quá trình sạc) diễn ra khi tụ điện được nối với nguồn điện bên ngoài.
Khi các điện cực được nhúng vào chất điện phân, lúc này có sự phân tách các ion trong chất điện phân đi về hai điện cực. Tại bề mặt điện cực/chất điện phân, một lớp điện tích kép EDL hình thành gần như tức thì (thời gian hình thành là gần 10-8 s). Trong quá trình này chỉ có sự sắp xếp lại điện tích mà không có phản ứng hóa học xảy ra trên bề mặt vật liệu điện cực. Đây là trường hợp lý tưởng của siêu tụ điện EDLC thuần khiết.
Điện áp làm việc của siêu tụ điện được xác định bởi điện áp phân ly của chất điện phân và phụ thuộc vào mật độ dòng điện, nhiệt độ hoạt động và thời gian sống.1, giả sử điện cực âm phía trái nối với nguồn dương, lúc này các ion âm trong chất điện phân sẽ bị hút về phía bề mặt và hấp phụ lên bề mặt vật liệu điện cực. Ở phía ngược lại bên phải, các ion dương sẽ di chuyển và hấp phụ lên điện cực âm. Ngược lại, trong quá trình xả, tụ điện đóng vai trò như e 8 một nguồn điện tương tự như pin. Lúc này các electron và lỗ trống đi về mạch điện ngoài tạo thành dòng điện đồng thời với quá trình giải hấp phụ của ion dương và ion âm trên hai điện cực và quay về lại dung dịch điện phân.
Đây là nguyên lý hoạt động chính của siêu tụ tĩnh điện lớp kép EDLC, tức là không xảy ra quá trình trao đổi điện tích giữa ion của dung dịch điện phân và điện cực của tụ. Sự hình thành EDL phụ thuộc vào cấu trúc của bề mặt điện cực, thành phần của chất điện phân và hiệu điện thế ở giữa các điện tích ở bề mặt điện cực/chất điện phân. Loại tụ điện EDLC này sử dụng vật liệu carbon cấu trúc nano vì chúng có diện tích bề mặt riêng rất cao và do cấu trúc vùng năng lượng của chúng đảm bảo không có sự trao đổi điện tích giữa vật liệu điện cực với ion trong các loại dung dịch điện phân[3]. Nhờ vào ưu điểm dòng điện sạc/xả lớn, siêu tụ điện chủ yếu được sử dụng cho các ứng dụng cần xung năng lượng trong khoảng thời gian ngắn, ví dụ như vài giây hoặc hàng chục giây.
Hiệu suất của siêu tụ điện phụ thuộc vào sự tích tụ điện tích từ dung dịch điện phân tại bề mặt điện cực/chất điện phân thông qua lực hút tĩnh điện bởi các điện cực phân cực. Siêu tụ điện đã được sử dụng làm thiết bị lưu trữ năng lượng trong nhiều thập kỷ trước nhưng mật độ năng lượng của chúng vẫn còn thấp. Những phát triển gần đây trong công nghệ siêu tụ điện đã cho phép siêu tụ điện lưu trữ lượng năng lượng lớn hơn (lên tới 30 Wh/kg [8]) so với tụ điện thông thường (có mật độ năng lượng chỉ khoảng 0,06 Wh/kg). Tuy nhiên, mật độ năng lượng của chúng vẫn còn kém so với so với pin liti-ion (có mật độ năng lượng khoảng 250 Wh/kg).
Do vậy, có thể xem siêu tụ điện là một loại thiết bị lưu trữ năng lượng có mật độ năng lượng và công suất nằm giữa của tụ điện cổ điển và pin liti-ion, đồng thời siêu tụ điện còn mang một số lợi thế hứa hẹn khác bao gồm số lượng chu kỳ sạc/xả lớn và khả năng hoạt động trong một phạm vi nhiệt độ rộng. Như vậy, để cạnh tranh e 9 với pin liti-ion, siêu tụ điện cần nâng cao mật độ năng lượng đồng thời giữ được ưu điểm về mật độ công suất và số chu kì sạc/xả cao. Tụ tĩnh điện lớp kép (EDLC) Đối với tụ tĩnh điện lớp kép, cơ chế nạp xả thông qua việc phân phối điện tích trên bề mặt thông qua các quá trình hấp phụ vật lý (hình 1. Lớp điện tích kép được hình thành do sự hấp thụ các điện tích (ion) tại mặt phân cách giữa điện cực rắn và dung dịch điện phân.
Về nguyên tắc, không có bất kỳ phản ứng Faradic nào xảy ra trên bề mặt của các điện cực. Do đó, loại siêu tụ điện này có mật độ công suất và hiệu suất Coulomb (tỉ lệ giữa số điện tích xả trên số điện tích nạp) tốt hơn so với tất cả các loại pin. Quá trình sạc và xả của siêu tụ điện gắn liền với quá trình hấp phụ và giải hấp phụ của ion dương và ion âm lên hai điện cực của siêu tụ. Chính vì nguyên lý hoạt động này của siêu tụ điện giúp chúng có hai ưu điểm rất lớn so với pin liti-ion.
Thứ nhất, vì quá trình sạc và xả chỉ gắn với quá trình hấp phụ của ion lên bề mặt điện cực nên quá trình sạc sẽ rất nhanh (khoảng vài phút), đồng thời khi xả sẽ tạo ra dòng điện (đồng nghĩa với công suất của nguồn) rất lớn. Thứ hai, quá trình hấp phụ và giải hấp phụ của ion trong quá trình sạc và xả của siêu tụ điện không phá hủy cũng như thay đổi đặc tính của chất điện phân và vật liệu điện cực. Do đó, siêu tụ điện có thể hoạt động lên đến hàng triệu chu kì. Điều này hoàn toàn khác với pin liti-ion chỉ có thể sạc/xả khoảng vài trăm đến tối đa vài nghìn chu kì do sự thay đổi cấu trúc vật liệu điện cực trong quá trình lưu trữ điện tích bên trong vật liệu rắn.
Ngoài ra, do đặc tính tương thích tốt giữa vật liệu điện cực và các dung môi, có rất nhiều loại dung môi có thể được sử dụng trong các tụ điện hóa và chúng có thể hoạt động ở các môi trường khác nhau. Vật liệu làm điện cực như ống nano cacbon, graphene, than hoạt tính, kim cương nano. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, EDLCs với điện cực cacbon nguyên chất với cơ chế lưu trữ hấp phụ ion e 10 trên bề mặt không đáp ứng được yêu cầu lưu trữ năng lượng cao và do đó, giả tụ điện được đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa điện dung của siêu tụ. Tụ tĩnh điện lớp kép (EDLCs) [9] 1.
Giả tụ điện Giả tụ điện không giống như EDLC, đây là một loại siêu tụ điện dựa trên phản ứng Faradic (phản ứng oxy hóa khử thuận nghịch điện hóa) để tích trữ năng lượng (hình 1. Khi một điện áp bên ngoài được đặt vào các điện cực, quá trình oxy hóa khử và thuận nghịch xảy ra rất nhanh trên bề mặt của các điện cực. Quá trình này, tương tự như cơ chế xảy ra trong tất cả các loại pin, liên quan đến sự chuyển dịch điện tích giữa các điện cực và chất điện phân. Điện dung của giả tụ điện có thể cao hơn khoảng 3 - 20 lần so với EDLC.
Tuy nhiên, mật độ dòng điện (và do đó, công suất riêng) của giả tụ điện thường thấp hơn so với EDLC do các quá trình Faradic tức là sự trao đổi điện tích trong các phản ứng oxy hóa khử, diễn ra chậm hơn quá trình hấp phụ ion trong EDLC. Vật liệu điện cực được sử dụng cho giả tụ điện là các oxit kim loại và polyme dẫn điện [9] có điện dung cao hơn vật liệu điện cực cacbon nhưng độ ổn định chu kỳ giảm hơn của chúng đã cản trở sự phát triển của tụ điện giả polyme dẫn điện. Oxit kim loại được sử dụng phổ biến nhất trong giả tụ điện là oxit e 11 ruthenium, vì nó kết hợp điện dung riêng và mật độ năng lượng cao hơn so với các tụ lớp điện kép (EDL) tương tự. Tuy nhiên hạn chế chính của nó là giá thành cao.
Giả tụ điện cũng có thể được hình thành bằng cách dùng các lớp phủ polyme dẫn điện trên sợi than hoạt tính, dẫn đến mật độ năng lượng được cải thiện. Cấu trúc của giả tụ điện[9] 1. Tụ lai Như đã đề cập trên, tụ tĩnh điện lớp kép có ưu điểm ở mật độ công suất lớn nhưng nhược điểm ở mật độ năng lượng nhỏ. Ở chiều ngược lại, pin liti- ion có ưu điểm mật độ năng lượng lớn nhưng mật độ công suất nhỏ.
Để kết hợp ưu điểm của hai loại thiết bị lưu trữ điện năng này, các nhà khoa học đã đề xuất ra một loại siêu tụ khác, đó là tụ liti-ion, hay có thể gọi là siêu tụ lai (hình 1. Các siêu tụ điện lai là sự kết hợp của một điện cực dương lấy từ điện cực dương của pin liti-ion hoặc cũng có thể dựa trên vật liệu giả điện dung (ví dụ PbO2 hoặc NiOOH) và một điện cực âm khác dựa trên vật liệu hai lớp điện tích (carbon). Vì lý do đó, điện dung của loại siêu tụ điện này được bao gồm trong e 12 cả điện dung hai lớp điện được lưu trữ bởi điện cực cacbon xốp và điện dung giả được lưu trữ bằng oxit kim loại hoặc polyme dẫn điện. Ngày nay, nhiều nghiên cứu đang tập trung vào siêu tụ điện lai do các tính năng thú vị của chúng kết hợp với cả EDLC và tụ điện giả.
Dung dịch điện phân sử dụng trong siêu tụ lai này là dung dịch điện phân trong pin liti-ion.