MỞ ĐẦU Pin nhiên liệu có nhiều tiềm năng để thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch. Điều này đã đáp ứng đáng kể nhu cầu sử dụng nhiên liệu xanh trong tình hình ô nhiễm môi trƣờng hiện nay nói chung cũng nhƣ lợi ích của ngƣời tiêu dùng nói riêng. Trong đó, PEMFC đã đƣợc sử dụng rộng rãi vƣợt trội hơn so với các loại pin nhiên liệu khác do đặc tính vƣợt trội là nhiệt độ làm việc tƣơng đối thấp và điện năng cung cấp có thể thay đổi và điều chỉnh đƣợc. Trong đó CeP2O7 hoàn toàn có thể sử dụng cho pin nhiên liệu PEMFC hoạt động ở nhiệt độ trung bình.
Tuy nhiên, các nguyên cứu này chỉ dừng lại ở mức sử dụng CeP2O7 làm electrolyte, Pt/C làm xúc tác cho các điện cực, chƣa nguyên cứu sâu hơn về ảnh hƣởng của các kim loại biến tính vào CeP 2O7 đến độ dẫn proton, độ dày của electrolye ảnh hƣởng đến công suất của pin, ảnh hƣởng của thành phần các chất trong điện cực. Xuất phát từ các ý tƣởng đó, chúng tôi dự đoán rằng sử dụng La biến tính CeP2O7 sẽ cho kết quả đầy triển vọng về ứng dụng làm pin nhiên liệu. Luận văn này tập trung nguyên cứu tổng hợp và biến tính vật liệu CeP2O7 sử dụng La nhằm thu đƣợc vật liệu có độ dẫn proton cao. HVTH: Nguyễn Thanh Hảo-7140188 Trang 1 Luận văn Thạc sĩ – chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học CHƢƠNG I: TỔNG QUAN I.
Tổng quan về Pin nhiên liệu I. Pin nhiên liệu Gần nhƣ toàn bộ nền kinh tế, chính xác hơn là toàn bộ xã hội hiện đại đã phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Nó đóng một vài trò quan trọng trong việc đƣa xã hội đến mức phát triển nhƣng nó cũng tồn tại những vấn đề nhức nhối lớn: ô nhiễm không khí, các vấn đề môi trƣờng, nguy hiểm và đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu cùng với sự nóng lên của trái đất. Ngoài ra, nhiên liệu hóa thạch chỉ là nguồn tài nguyên hữu hạn không thể đƣợc tái tạo và còn làm cho một số nƣớc không có nhiều tài nguyên sẽ bị phụ thuộc vào những nƣớc vốn có nguồn dầu dồi dào, từ đó dẫn đến nhiều hệ quả chính trị và kinh tế khác, thậm chí cả những cuộc chiến tranh giành dầu mỏ.
Và một nguồn năng lƣợng – pin nhiên liệu có nhiều tiềm năng mang lại ứng dụng, phát triển nhằm thay thế cho nguồn nhiên liệu hóa thạch. Pin nhiên liệu có nhiều hiệu quả nhƣ: không gây ô nhiễm; không thải ra khí gây hiệu ứng nhà kính; không phụ thuộc về kinh tế: không dùng dầu mỏ và các loại nhiên liệu hóa thạch khác. Pin nhiên liệu không phụ thuộc vào thời tiết và độ dài của ngày, nó có thể đảm bảo cung cấp năng lƣợng 24/24 giờ. Nguồn nguyên liệu sử dụng cho pin nhiên liệu rất dồi dào.
Oxy thì đã có sẵn trong không khí, còn hydro có thể thu đƣợc từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ: nhiên liệu hóa thạch, những nguồn nhiên liệu tái sinh, năng lƣợng hạt nhân, nguồn tài nguyên có trong nƣớc,… Điều này làm giảm sự phụ thuộc dầu mỏ, các loại nhiên liệu hóa thạch khác. Nhƣ vậy, có thể thấy pin nhiên liệu là một trong những nguồn năng lƣợng tiên tiến nhất hiện nay, nó đóng vai trò nhƣ một máy sản xuất điện với nhiên liệu đầu vào chỉ cần hydro và oxy. Các tế bào nhiên liệu hay còn gọi là "pin nhiên liệu", biến đổi năng lƣợng hóa học của nhiên liệu, thí dụ nhƣ là hyđrô, trực tiếp thành năng lƣợng điện. Pin nhiên liệu là thiết bị chuyển hóa năng thành điện năng thông qua các phản ứng ở các điện cực.
Không giống nhƣ pin thông thƣờng (battery) hay ắc quy, pin nhiên liệu không bị mất điện và cũng không có khả năng tích điện, pin nhiên liệu không chứa năng lƣợng bên trong mà nó chuyển hóa trực tiếp từ hóa năng thành điện năng. Pin nhiên liệu đƣợc coi là hệ thống hở và hoạt động liên tục khi nhiên liệu (hydro, hydro carbon, khí thiên nhiên, etanol,…) và chất oxy hóa (oxy, không khí) đƣợc đƣa từ ngoài vào (chủ yếu là HVTH: Nguyễn Thanh Hảo-7140188 Trang 2 Luận văn Thạc sĩ – chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học từ bình khí nén bên ngoài). Trong khi đó ác quy cần nạp điện lại sau một thời gian sử dụng còn pin nhiên liệu thì chỉ cần cung cấp nhiên liệu thì có thể có điện để sử dụng. Để giảm chi phí vận hành thì ngƣời ta thƣờng sử dụng không khí thay cho oxy nguyên chất.
Một tế bào nhiên liệu có cấu tạo đơn giản bao gồm ba lớp nằm trên nhau. Lớp thứ nhất là điện cực nhiên liệu (cực dƣơng), lớp thứ hai là chất điện phân dẫn ion và lớp thứ ba là điện cực khí ôxy (cực âm). Cấu tạo đơn giản nhất của pin nhiên liệu là tế bào pin nhiên liệu gồm có hai điện cực cathode và anode và màng dẫn proton hoặc dẫn ion O2-, trong đó 2 điện cực xốp (anode và cathode) đƣợc ghép 2 bên của màng electrolyte. Phản ứng sinh ra điện năng xảy ra tại hai điện cực này.
Giữa hai điện cực còn chứa chất điện phân, vận chuyển các hạt điện tích từ điện cực này sang điện cực khác, và chất xúc tác nhằm làm tăng tốc độ phản ứng. Hai điện cực đƣợc làm bằng chất dẫn điện (kim loại, than chì,. Chất điện phân đƣợc dùng là nhiều chất khác nhau tùy thuộc vào loại của tế bào nhiên liệu, có loại ở thể rắn, có loại ở thể lỏng và có cấu trúc màng. Chất điện phân đóng vai trò quyết định chủ chốt.
Nó phải chỉ cho phép những ion thích hợp đi qua giữa anode và cathode; vì nếu electron tự do hay các chất khác cũng có thể đi qua chất điện phân này, chúng sẽ làm hỏng các phản ứng hóa học. Có nhiều loại pin nhiên liệu và mỗi kiểu vận hành một cách khác nhau nhƣng cùng chung nguyên tắc cơ bản. Khi những nguyên tử hydro đi vào pin nhiên liệu, phản ứng hóa học xảy ra ở anode sẽ lấy đi electron của chúng. Những nguyên tử hydro lúc này bị ion hóa và mang điện tích dƣơng.
Electron điện tích âm sẽ chạy qua dây dẫn tạo ra dòng điện một chiều. Oxy đi vào cathode, trong một số dạng pin nhiên liệu, chúng sẽ kết hợp với các electron từ dòng điện và những ion hydro vừa đi qua chất điện phân từ anode; ở một số dạng pin nhiên liệu khác, oxy lấy electron rồi đi qua chất điện phân đến anode, gặp và kết hợp với các ion hydro tại đó. Dù cùng gặp ở anode hay cathode, kết hợp với nhau, hydro và oxy cuối cùng cũng tạo ra nƣớc, thoát ra khỏi pin. Pin nhiên liệu sẽ liên tục phát điện khi vẫn đƣợc cung cấp hydro và oxy.
Phản ứng cơ bản trong pin nhiên liệu chính là phản ứng nghịch của quá trình điện phân nƣớc. Ở bề mặt cực dƣơng khí hiđrô bị ôxy hóa bằng hóa điện, Các điện tử đƣợc giải phóng đi từ cực dƣơng qua mạch điện bên ngoài về cực âm. Các proton H+ HVTH: Nguyễn Thanh Hảo-7140188 Trang 3 Luận văn Thạc sĩ – chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học di chuyển trong chất điện phân xuyên qua màng có khả năng chỉ cho proton đi qua về cực âm kết hợp với khí ôxy có sẵn trong không khí (nồng độ 21%) và các điện tử tạo thành nƣớc Phản ứng hóa học tổng quát cho pin nhiên liệu còn tƣơng tự nhƣ là sự kết hợp giữa khí hydro và oxy tạo nên năng lƣợng; điểm làm nên sự khác biệt quan trọng là – phản ứng cháy tạo ra nhiệt trong khi phản ứng điện hóa của pin nhiên liệu sinh ra điện năng. Khi nào còn đƣợc cung cấp nguyên liệu, pin sẽ cung cấp điện.
Phân loại Pin nhiên liệu Các hệ thống tế bào nhiên liệu đƣợc phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy theo cách nhìn: Phân loại theo nhiệt độ hoạt động Phân theo loại các chất tham gia phản ứng Phân loại theo điện cực Phân theo loại các chất điện phân là cách phân loại thông dụng ngày nay Liệt kê dƣới đây là 6 loại tế bào nhiên liệu khác nhau: AFC (Alkaline fuel cell - tế bào nhiên liệu kiềm) Pin nhiên liệu alkali (kiềm) vận hành với khí hydrogen nén và oxy, dùng dung dịch kiềm KOH làm chất điện phân. Hiệu suất pin khoảng 70%, và hoạt động ở từ 150oC đến 200oC. Công suất đầu ra khoảng từ 300W đến 5kW. Do nhỏ, nhẹ, hiệu suất cao nên phần lớn loại pin nhiên liệu alkali này thƣờng đƣợc dùng trong các phƣơng tiện xe cộ, giao thông.
Phản ứng trên anode: 2H2 + 4OH- 4H2O + 4e- (1.4) Phản ứng trên cathode: O2 + 2H2O + 4e- 4OH- (1.5) Tổng quát: 2H2 + O2 2H2O + năng lƣợng (điện) HVTH: Nguyễn Thanh Hảo-7140188 Trang 4 Luận văn Thạc sĩ – chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học Nó đòi hỏi nhiên liệu hydro tinh khiết và chất xúc tác điện cực bằng platin (bạch kim). Vì thế mà pin nhiên liệu alkali vẫn còn khá đắt đỏ để thƣơng mại hóa cho các sản phẩm thông thƣờng. Tháng 7/1998, công ty “xe cộ không phát thải” ZEVCO (the Zero Emission Vehicle Company) đã cho ra đời chiếc taxi mẫu đầu tiên tại London nƣớc Anh. Chiếc taxi sử dụng một bộ pin nhiên liệu alkali 5kW, chất xúc tác cobalt đƣợc thay cho platin để giảm chi phí, xe chạy không sinh ra khí độc và vận hành rất êm, gần nhƣ không gây tiếng động nhƣ những taxi chạy bằng động cơ đốt trong thông thƣờng.
PAFC (Phosphoric acid fuel cell - tế bào nhiên liệu axit phosphoric) PAFC dùng axit phosphoric làm chất điện phân, phƣơng trình (1. Hiệu suất pin có thể đạt từ 40% đến 80%, và nhiệt độ vận hành nằm trong khoảng 150oC đến 200oC. Các pin nhiên liệu PAFC hiện tại có công suất đến 200 kW, và thậm chí 11 MW đã đƣợc thử nghiệm. PAFC đòi hỏi điện cực bạch kim, và các bộ phận bên trong phải chống chịu đƣợc ăn mòn axit.
PAFC đƣợc phát triển, kiểm tra thực nghiệm từ giữa thập kỉ 60 và 70 của thế kỉ trƣớc, là dạng pin nhiên liệu đầu tiên đƣợc thƣơng mại hóa trên thị trƣờng nên đến ngày nay PAFC đã có đƣợc nhiều cải tiến đáng kể nhằm giảm chi phí và tăng tính ổn định, chất lƣợng hoạt động. Hệ thống PAFC thƣờng đƣợc cài đặt cho các tòa nhà, khách sạn, bệnh viện, các thiết bị điện (các ứng dụng tĩnh tƣơng đối lớn) và công nghệ này đã đƣợc phổ biến ở Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ. MCFC (Molten carbonate fuel cell - tế bào nhiên liệu carbonat nóng chảy) MCFC dùng các muối carnonate của Na và Mg ở nhiệt độ cao làm chất điện phân.