CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ASPHALT VÀ BÊ TÔNG ASPHALT TÁI SINH NGUỘI TẠI CHỖ I. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ASPHALT Bê tông Asphalt (bê tông nhựa) là một loại sản phẩm quan trọng của bitum được sử dụng nhiều nhất làm vật liệu xây dựng ở khắp các nơi. Bêtông asphalt được chế tạo bằng phương pháp nhào trộn bitum với các hạt vật liệu khác như cát đá dăm, sỏi cuội có kích thước khác nhau tùy theo yêu cầu của từng loại sản phẩm. Bêtông nhựa được sử dụng chủ yếu làm kết cấu mặt đường mềm.
Bêtông nhựa là một loại vật liệu vô cùng quan trọng trong đường bộ. Nó có mặt hầu hết ở các tầng phủ của các loại mặt đường mềm cấp cao. Không những được sử dụng trong đường ô tô, bê tông nhựa (BTN) còn được sử dụng rộng rãi trong đường đô thị, đường sân bay. Thành phần của bê tông asphalt.
Thành phần của bê tông asphalt Bê tông asphalt là hỗn hợp gồm các thành phần là cốt liệu khoáng (đá dăm, cát, bột khoáng), chất liên kết là nhựa đường và phụ gia (nếu có) được phối hợp với nhau theo tỷ lệ hợp lý. Mỗi thành phần trong bê tông nhựa đóng một vai trò nhất định và có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ cường độ và các tính chất cần thiết cho quá trình sử dụng. Chất lượng của đá dăm hay sỏi (cường độ, tính đồng nhất, hình dạng, trạng thái bề mặt, thành phần khoáng vật,…) có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của bê tông asphalt. Các chỉ tiêu chất lượng của đá dăm hay sỏi để chế tạo bê tông asphalt cũng được xác định như khi chế tạo bê tông xi măng nặng.
Đá dăm dùng để chế tạo bê tông asphalt có thể là đá dăm sản xuất từ đá thiên nhiên, đá dăm chế tạo từ cuội, cũng như đá dăm chế tạo từ xỉ lò cao, nhưng phải phù hợp với các yêu cầu của quy phạm. Không cho phép dùng đá dăm chế tạo từ đá vôi sét, sa thạch sét và phiến thạch sét.Thành phần hạt của đá dăm hay sỏi được phân ra ba nhóm 20- 4; 10-20 và 5- 10mm. Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Trang: 8 Luận văn thạc sĩ HVTH: Vũ Minh Tuấn Đá dăm cần phải liên kết tốt với bitum. Về mặt này thì các loại đá vôi, đôlômit, điaba tốt hơn các loại đá axit.
Nếu dùng loại đá liên kết kém với bitum phải gia công đá bằng chất phụ gia hoạt tính như vôi, xi măng hoặc cho thêm chất phụ gia hoạt động bề mặt vào bitum. Đá cần phải sạch, lượng ngậm chất bẩn không được lớn hơn 1% theo khối lượng. Có thể dùng cát thiên nhiên hay cát nhân tạo với các chỉ tiêu kỹ thuật phù hợp với quy phạm như khi dùng cho bê tông xi măng. Đối với cát thiên nhiên chỉ dùng cát lớn ( Mđl/2,5 ) và cát vừa ( Mđl = 242,5).
Nếu không có cát lớn có thể dùng cát hạt nhỏ theo nguyên tắc cấp phối không liên tục. Cát cần sạch, hàm lượng bụi, sét không được lớn hơn 3%. Cát nhân tạo có thể được nghiền từ các loại đá (không phải là đá vôi) có cường độ không thấp hơn 1000kG/cm2 hay xỉ kết tinh của các xí nghiệp luyện kim. - Bột khoáng.
Bột khoáng do có bề mặt riêng lớn, có khả năng dàn mỏng màng bitum trên bề mặt, làm tăng lực tương tác giữa chúng, cùng với bitum nhét đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu nên cường độ của bê tông asphalt tăng lên. Bột khoáng để chế tạo bê tông asphalt thường sử dụng các loại bột mịn từ đá vôi và đá đôlômit. Cường độ chịu nén của đá không nhỏ hơn 200 daN/cm2. Vật liệu chế tạo bột khoáng cần sạch, không chứa các chất bẩn và sét quá 5%.
Bột khoáng cần phải khô, xốp khi trộn với bitum không được vón cục, có khả năng hút bitum tốt và phải thỏa mãn các yêu cầu về độ rỗng. Trong xây dựng đường thường dùng loại bitum dầu mỏ loại quánh và loại lỏng. Trong điều kiện Việt Nam thông thường chọn bitum đặc số 3 hoặc số 4 có các chỉ tiêu kỹ thuật phù hợp với quy định của 22 TCN 227 : 1995. Cách chọn loại bitum có thể tham khảo quy phạm Nga 9128 : 84 hoặc AASHTO.
Để tăng tính ổn định nhiệt cho bê tông có thể dùng hỗn hợp bitum - cao su, bitum - polyme. Phụ gia: Các loại phụ gia hiện có trên thị trường nước ta làm cho bê tông tăng độ ổn định nước và chóng khô bề mặt, đảm bảo tốc độ khai thác. Vai trò của các thành phần trong hỗn hợp bê tông nhựa. Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Trang: 9 Luận văn thạc sĩ HVTH: Vũ Minh Tuấn - Đá dăm: Làm nên bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa, làm cho bê tông nhựa có khả năng chịu tác dụng của ngoại lực và tạo độ nhám bề mặt.
- Cát: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt đá dăm và cùng với đá dăm làm thành bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa. - Bột khoáng: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu lớn. Bột khoáng là loại vật liệu có tỷ diện cao (250-300m2/kg), có ái lực mạnh với nhựa, biến nhựa vốn có ở trạng thái khối, giọt thành trạng thái màng mỏng, bao bọc dễ dàng với các hạt khoáng vật. Bột khoáng có vai trò như một chất phụ da làm cho nhựa tăng thêm độ nhớt, tăng thêm khả năng dính bám và tăng tính ổn định nhiệt.
Bột khoáng cùng với nhựa tạo ra một chất liên kết mới có tính chất hơn hẳn các tính chất riêng của nhựa đường. - Nhựa đường: Là chất liên kết, kết dính các hạt cốt liệu khoáng lại với nhau thành một khối và góp phần lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cố liệu. - Phụ gia: mặt dù được sử dụng với hàm lượng rất nhỏ, nhưng phụ gia có vai trò trong việc cải thiện một hoặc một số tính chất nào đó của bê tông nhựa. Thành phần vật liệu trong cấu trúc bê tông nhựa cần được thiết kế hợp lý vì: - Thành phần cốt liệu quyết định cường độ chính, độ đặc chắc của bê tông nhựa.
Chỉ khi nào cấp phối cốt liệu, kích cỡ cốt liệu hợp lý thì mới tạo được hỗn hợp có cường độ cao và ổn định. - Thành phần nhựa quyết định tính liên kết cho cốt liệu. Khi thiếu hoặc thừa nhựa thì tính liên kết sẽ giảm xuống, dẫn đến hàng loạt các bất lợi khác. Ưu, nhược điểm chủ yếu của mặt đường bê tông asphalt.
Những ưu điểm chủ yếu của mặt đường bê tông asphalt. Hiện nay, Bê tông nhựa được sử dụng rất phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam để làm lớp mặt đường ô tô và đường sân bay do có những ưu điểm chủ yếu sau: - Công nghệ chế tạo và thi công đơn giản, thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa do đó có tốc độ thi công nhanh, chất lượng cao. - Công tác kiểm tra chất lượng trước, trong và sau khi thi công dễ thực hiện và đã được chuẩn hóa. - Cho phép khai thác sử dụng ngay sau khi thi công.
Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Trang: 10 Luận văn thạc sĩ HVTH: Vũ Minh Tuấn - Mặt đường có tính toàn khối, bằng phẳng, êm thuận. - Ít bụi, không ồn, ít bị bào mòn. - Có tuổi thọ tương đối lớn. - Dễ dàng bảo dưỡng, sữa chữa trong quá trình khai thác.
- Cho phép tái phục hồi chất lượng nhờ công nghệ tái sinh mặt đường sau thời gian khai thác nhất định. b) Những nhược điểm chủ yếu của bê tông asphalt. Mặt đường bê tông asphalt có những nhược điểm chủ yếu sau: - Ổn định kém: Khi nhiệt độ thay đổi thì cấu trúc của bê tông asphalt thay đổi, dẫn đến các đặc trưng về cường độ và biến dạng cũng thay đổi theo. Ở nhiệt độ cao, bê tông nhựa thể hiện tính dẻo, cường độ chịu nén rất kém, sức chống cắt thấp, biến dạng tăng.
Vì vậy mặt đường dễ gây trượt, lượn sóng, hằn vệt bánh xe, nổi nhựa lên mặt, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng khai thác và tuổi thọ của mặt đường. Ở nhiệt độ thấp, bê tông nhựa thể hiện tính giòn, khả năng chiu kéo kém, mặt đường dễ bị nứt nẻ. - Hiện tượng lão hóa theo thời gian: do sự bay hơi của các thành phần dầu nhẹ, quá trình oxy hóa và trùng hợp của các hợp chất cao phân tử có trong thành phần nhựa đường. - Kém ổn định với nước, vì vậy mặt đường rất chóng bị phá hỏng ở những nơi ẩm ướt lớn hay ngập nước.
- Cường độ mặt đường bị giảm dần theo thời gian do hiện tượng lão hóa của nhựa. - Các loại xe bánh xích, bánh sắt đi lại trên đường bê tông nhựa thường hay để lại những dấu vết làm hư hỏng lớp trên mặt, nên thường không làm mặt đường bê tông nhựa cho loại xe này chạy. - Hệ số bám sẽ giảm đi khi mặt đường ẩm ướt nên xe dễ bị trượt. Khắc phục nhược điểm này bằng cách rải lên trên bề mặt lớp vật liệu tạo nhám.
- Đầu tư ban đầu tương đối lớn. Nhưng xét tới tổng chi phí xây dựng, chi phí duy tu, bảo dưỡng và vận tải của mặt đường bê tông nhựa so với các loại mặt đường khác thì chưa chắc đây lại là nhược điểm. Cấu trúc của bê tông asphalt Về mặt cấu trúc, bê tông asphalt là một vật liệu xây dựng có cấu trúc thuộc loại cuội liên kết nhân tạo, trong đó các cốt liệu khoáng vật được dính kết với nhau nhờ Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Trang: 11 Luận văn thạc sĩ HVTH: Vũ Minh Tuấn chất liên kết asphalt. Tuy nhiên cũng còn một vài quan điểm về cấu trúc của hỗn hợp: a.
Quan điểm theo mô hình đơn giản xem bê tông nhựa gồm hai pha cơ bản: Pha rắn là cốt liệu khoáng vật gồm đá, cát và bột khoáng, còn pha lỏng là nhựa. Quan điểm xem bê tông nhựa như là một vật liệu gồm hai thành phần cấu trúc: Một là khung sườn vật liệu gồm đá và cát, hai là chất liên kết asphalt gồm bitum và bột khoáng. Quan điểm xem bê tông nhựa là một hệ thống gồm ba thành phần để thuận lợi trong việc nghiên cứu điều chỉnh cấu trúc của bê tông nhựa theo các yêu cầu sử dụng. - Một là cấu trúc vi mô (tế vi) gồm nhựa và bột khoáng tạo thành chất liên kết asphalt.
- Hai là cấu trúc trung gian gồm cát và chất liên kết asphalt tạo thành vữa asphalt.