CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của kiểm toán độc lập 1. Khái niệm kiểm toán độc lập Kiểm toán độc lập là hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn, ra đời và phát triển trong nền kinh tế thị trường trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Kiểm toán độc lập xuất hiện và phát triển theo nhu cầu tự thân của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán độc lập phục vụ cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, sau đó được Nhà nước thừa nhận do hiệu quả và tính chất xã hội của nó.
Trên thế giới, kiểm toán độc lập phát triển mạnh ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, đại diện là các công ty được thành lập từ những năm cuối của thế kỷ XIX phát triển đến hiện nay và trở thành những công ty kiểm toán hàng đầu thế giới và được thế giới thừa nhận là nhóm Big Four như: Ernst&Young, Price Waterhouse Cooper, KPMG Peat Marwich, Deloitte Touche. Hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán ở các nước không hoàn toàn giống nhau. Mỗi nước, luật pháp quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán, thừa nhận sự khách quan và độc lập của kiểm toán, vì thế mà xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau và cách tiếp cận khác nhau về kiểm toán độc lập. Dưới đây ta sẽ viện dẫn một số định nghĩa về kiểm toán được sử dụng phổ biến hiện nay trên thế giới.
Theo Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International Federation of Accountants - IFAC) định nghĩa thì: “Kiểm toán là việc các KTV độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính” [18]. Theo quan niệm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá 6 rõ ràng về thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập” [21]. Trong Giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và James K.Loebbecker cho rằng: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”. Còn trích từ Auditing - Theory & Practice của John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow Nhà xuất bản Prentice Hall thì: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi KTV hoặc thiết lập bởi thực hành chung.
Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán”. Ở Việt Nam, theo Thông tư số 22-TC/CĐKT ngày 19/3/1994 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP ngày 29/01/1994 của Chính phủ thì: “Kiểm toán độc lập là loại hình hoạt động dịch vụ kiểm toán vầ tư vấn tài chính kế toán do các KTV chuyên nghiệp của các tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện theo yêu cầu của các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan”. Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/4/2004 của Chính phủ cũng quy định: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và DNKT về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này”. Khái niệm kiểm toán độc lập được xác định đầy đủ hơn theo các quy định của Luật Kiểm toán độc lập năm 2011: “Kiểm toán độc lập là việc KTV 7 hành nghề, DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”.
Như vậy, kiểm toán độc lập là hoạt động được tiến hành bởi các KTV thuộc các Công ty, Văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp nhằm xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động của đối tượng được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ. Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc lập là kiểm toán Báo cáo tài chính. Ngoài ra, theo yêu cầu của khách hàng, KTV độc lập còn có thể thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán khác. Đặc điểm của kiểm toán độc lập Trong từng giai đoạn phát triển, kiểm toán độc lập có những đặc điểm khác nhau, tuy nhiên nổi bậc và xuyên suốt nhất thì đặc điểm của kiểm toán độc lập được thể hiện qua một số nội dung như sau: Một là, đối tượng của kiểm toán độc lập là thực trạng hoạt động tài chính, tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính cùng hiệu quả và hiệu năng của các nghiệp vụ hay dự án cụ thể.
Thực trạng hoạt động tài chính là đối tượng chung của kiểm toán, có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu tư, kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tới lợi ích kinh tế xác định. Để giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế xã hội theo mục tiêu đã xác định, hoạt động tài chính phải có kế hoạch; phải đảm bảo có lợi và tiết kiệm và phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và thể lệ tài chính. Mặt khác hoạt động này thường phức tạp trên nhiều lĩnh vực, gồm nhiều loại tài sản, các tài sản hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau nên khi tiến hành kiểm toán phải chọn trọng điểm và áp dụng các phương pháp kiểm toán thích hợp. 8 Tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính và hiệu quả, hiệu năng là đối tượng cụ thể của kiểm toán.
Tài liệu kế toán trước hết là các báo cáo tài chính, là đối tượng trực tiếp và thường xuyên của mọi cuộc kiểm toán. Các đối tượng cụ thể của kiểm toán thuộc phạm vi tài liệu kế toán bao gồm: + Tính hiệu lực của các thông tin kế toán. + Tính hợp pháp của các biễu mẫu, trình tự lập và luân chuyển các tài liệu này. + Tính hợp lý của các đối tượng kế toán phù hợp với nội dung của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
+ Tính pháp lý trong việc thực hiện các luật pháp, chuẩn mực và chế độ kinh tế tài chính. Thực trạng tài sản được biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau với yêu cầu về quy cách, phẩm chất, bảo quản…khác nhau với những người quản lý khác nhau. Thêm vào đó lại xuất hiện nhiều loại tài sản mới do quy mô kinh doanh mở rộng, các mối liên hệ kinh tế ngày càng phức tạp…Tất cả những yếu tố này dẫn đến khả năng cách biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kế toán. Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt thực trạng của tài sản vào đối tượng kiểm toán.
Tài sản trong kinh doanh cũng như trong mội lĩnh vực hoạt động khác thường xuyên vận động. Trong khi đó nghiệp vụ tài chính là các thao tác khác nhau thong quá trình vận động và hình thành vốn. Số lượng các nghiệp vụ tài chính tương đối lớn phụ thuộc nhiều loại hình kinh doanh của từng doanh nghiệp. Ngoài tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính, theo quan điểm hiện đại đối tượng kiểm toán còn bao gồm cả hiệu quả và hiệu năng.
Hiệu quả được hiểu là quan hệ giữa một bên là các sản phẩm, dịch vụ 9 làm ra với một bên là nguồn lực đã tạo ra chúng với yêu cầu có kết quả tối đa, với chi phí về nguồn lực tối thiểu. Còn hiệu năng là xét đến mục tiêu, kết quả cụ thể của một chương trình. Hiệu quả thường gắn với hoạt động kinh doanh còn hiệu năng thường gắn với hoạt động quản lý. Đây là đối tượng hoàn toàn mới, tuy nhiên trên góc độ kiểm toán thì cả hiệu quả và hiệu năng là một bộ phận của kiểm toán nghiệp vụ, gắn liền với một nghiệp vụ hay chương trình cụ thể.
Hai là, mục đích của kiểm toán độc lập là kiểm tra, xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp, trung thực, hợp lý của thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phục vụ cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. Nói cách khác, mục đích của kiểm toán độc lập là để có được những thông tin đáng tin cậy. Để đạt được mục đích của kiểm toán độc lập thì cần phải có một bên thứ ba độc lập, khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, địa vị và trách nhiệm pháp lý kiểm tra và đưa ra kết luận là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp lập ra có hợp thức không, có trung thực và hợp lý hay không. Đó chính là công việc của KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp.
Kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền kinh tế. Luật pháp nhiều nước khẳng định rằng, chỉ những báo cáo đã được xem xét và có chữ ký của KTV độc lập mới được coi là hợp pháp, làm cơ sở cho Nhà nước tính thuế cũng như các bên quan tâm khác đưa ra các quyết định kinh tế trong mối quan hệ với doanh nghiệp. Ba là, chủ thể kiểm toán độc lập là các KTV được cấp chứng chỉ hành nghề hợp pháp thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Theo tiêu chuẩn của IFAC (Liên đoàn Kế toán Quốc tế) và luật pháp các nước thành viên đều quy định các yêu cầu cơ bản của KTV là: Phải có kỹ năng và khả năng nghề nghiệp; chính trực, khách quan; độc lập và tôn trọng bí mật.
10 - Về kỹ năng và khả năng của KTV. Việc thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán phải được tiến hành một cách thận trọng theo yêu cầu nghề nghiệp. Năng lực chuyên môn là nhân tố quan trọng đối với KTV.