Tổng quan về luận án
Công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) của nghiên cứu sinh Đỗ Xuân Hòa, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Văn Bằng tại Học viện Hành chính Quốc gia (2024), mang tiêu đề "Tổ chức và hoạt động của các cơ quan báo chí địa phương ở Việt Nam". Luận án được triển khai trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế chuyển đổi số truyền thông đang tái cấu trúc toàn diện không gian thông tin công cộng. Tính đến cuối năm 2023, Việt Nam đã có gần 59 triệu người sử dụng internet (chiếm 62,7% dân số), mạng lưới truyền thông bao gồm 06 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo in, 670 tạp chí, 72 đài phát thanh - truyền hình (PTTH), 125 cơ quan báo điện tử, hơn 1.500 trang thông tin điện tử tổng hợp và 270 mạng xã hội được cấp phép.
HỆ THỐNG BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG
MÔ HÌNH TRUYỀN THỐNG MÔ HÌNH HỢP NHẤT HỘI TỤ
Điểm tiên phong của nghiên cứu thể hiện ở việc đặt hệ thống cơ quan báo chí địa phương (CQBCĐP) vào trọng tâm của khoa học Quản lý công và mô hình quản trị đơn vị sự nghiệp công lập, thay vì chỉ tiếp cận thuần túy dưới góc độ nghiệp vụ báo chí học hay lịch sử truyền thông.
Khoảng trống nghiên cứu (Research gap): Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào vai trò lãnh đạo tư tưởng của Đảng (Nguyễn Vũ Tiến, 2003), công tác quản lý nhà nước về báo chí ở tầm vĩ mô (Nguyễn Thị Mai Anh, 2016), hoặc kỹ năng làm báo đa phương tiện (Nguyễn Thành Lợi, 2014). Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện và có hệ thống tác động của Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 03/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 đối với việc tái cấu trúc tổ chức bộ máy và phương thức vận hành của CQBCĐP.
Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Thực trạng thiết kế tổ chức bộ máy của các CQBCĐP ở Việt Nam sau quy hoạch đang diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Hoạt động sản xuất, phân phối sản phẩm báo chí và cung ứng dịch vụ thông tin công của CQBCĐP bộc lộ những bất cập nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những nguyên nhân cốt lõi (thể chế, tài chính, nhân sự, công nghệ) nào dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của CQBCĐP?
- Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Cần những giải pháp đột phá nào về quản lý công để hoàn thiện tổ chức bộ máy và tối ưu hóa hoạt động CQBCĐP theo mô hình tòa soạn hội tụ?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Cơ cấu tổ chức của CQBCĐP truyền thống tồn tại sự phân mảnh, chồng chéo chức năng giữa Báo Đảng và Đài PTTH, làm phân tán nguồn lực công.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Quy trình sản xuất sản phẩm báo chí địa phương chưa bắt kịp mức độ số hóa của công chúng, dẫn đến trùng lặp thông tin và hiệu suất thấp.
- Giả thuyết nghiên cứu 3 (H3): Điểm nghẽn thể chế quản lý đơn vị sự nghiệp công lập và cơ chế tự chủ tài chính hạn chế năng lực đầu tư đổi mới công nghệ của các CQBCĐP.
- Giả thuyết nghiên cứu 4 (H4): Việc chuyển đổi sang mô hình cơ quan báo chí hội tụ (tích hợp 4 loại hình: báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình) kết hợp tái cơ cấu nguồn nhân lực đa năng sẽ tối ưu hóa hiệu quả quản trị công và năng lực phục vụ xã hội.
Khung lý thuyết cốt lõi (Theoretical framework): Luận án tích hợp Lý thuyết Hội tụ Truyền thông (Nicholas Negroponte, 1979; Rich Gordon, 2003), Lý thuyết Cấu trúc tổ chức quan liêu và Quản trị hành chính công (Max Weber; P.M. Kerzhentsev), Lý thuyết Hệ thống mở (A. Ovexkin; William Ouchi) cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản trị báo chí cách mạng.
Phạm vi và quy mô: Không gian nghiên cứu bao phủ hệ thống báo chí tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thời gian khảo sát tập trung từ năm 2019 đến năm 2024 (giai đoạn thực thi Quyết định 362/QĐ-TTg, ghi nhận sự sụt giảm 44 CQBCĐP từ 276 xuống 232 cơ quan và khảo sát thực chứng tại các mô hình mới như Quảng Ninh, Bình Phước).
Literature Review và Positioning
Tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước cho thấy sự phát triển của các luồng tư tưởng học thuật xoay quanh tổ chức và hoạt động báo chí:
TIẾN TRÌNH LÝ THUYẾT HỘI TỤ
Negroponte (1979) Rich Gordon (2003) Janet Kolodzy (2006)
Ba vòng tròn giao thoa: 6 chiều kích hội tụ: Tích hợp toàn diện:
Máy tính - In ấn - Công nghệ, Tổ chức, Đa phương tiện, Đa kỹ năng,
Phát thanh truyền hình Quyền sở hữu, Kỹ năng... Đa kênh phân phối
Dòng nghiên cứu lý luận nền tảng và hội tụ truyền thông: Lý thuyết 4 mô hình báo chí của Fred Siebert, Theodore Peterson và Wilbur Schramm (1956) đặt nền móng cho việc phân loại hệ thống truyền thông gắn liền với thể chế chính trị - xã hội. Khái niệm hội tụ truyền thông được khởi xướng bởi Nicholas Negroponte (1979) thông qua mô hình ba vòng tròn giao thoa (máy tính, in ấn - xuất bản, truyền hình) và được Ithiel de Sola Pool (1983) phát triển trong "The Technology of Freedom". Rich Gordon (2003) hệ thống hóa 6 chiều kích hội tụ (công nghệ, cấu trúc tổ chức, quyền sở hữu, kỹ năng tác nghiệp, nội dung, hình thức thể hiện). Janet Kolodzy (2006) và August E. Grant & Jeffrey S. Wilkinson (2009) khẳng định hội tụ báo chí là điều kiện sống còn để vượt qua sự suy giảm của báo in và phát thanh truyền thống. Kevin L. McCrudden (2013) làm rõ vai trò của Internet như hạt nhân tích hợp mọi phương tiện.
Dòng nghiên cứu về quản trị báo chí địa phương và chuyển đổi cấu trúc: Bob Franklin (2006) trong "Local Journalism and Local Media" phân tích cấu trúc biên tập và thách thức công nghệ của báo chí địa phương Anh. Anthony S. Rausch (2012) với "Japan's Local Newspapers: Chihoshi and Revitalization Journalism" khám phá vai trò của báo chí địa phương Nhật Bản trong việc tái thiết cộng đồng. Ngược lại, Penelope Muse Abernathy (2020) cảnh báo về hiện tượng "sa mạc tin tức" (news deserts) và "báo ma" (ghost newspapers) tại Hoa Kỳ khi báo chí địa phương mất quyền tự chủ kinh tế. Shixin Ivy Zhang (2014) khảo sát tác động của toàn cầu hóa và thương mại hóa lên hệ thống báo chí cấp tỉnh tại Trung Quốc.
Tranh luận học thuật và các quan điểm đối lập:
- Tranh luận 1 (Bản chất của báo chí): Quan điểm phương Tây (Hoàng Quốc Bảo, 2010 trích dẫn) coi báo chí là "quyền lực thứ tư" mang tính độc lập, giám sát quyền lực; đối lập với quan điểm mác-xít coi báo chí là cơ quan ngôn luận, công cụ tuyên truyền của Đảng, Nhà nước và diễn đàn của nhân dân. Luận án định vị báo chí địa phương Việt Nam phải đảm bảo tính định hướng chính trị song song với tính phục vụ đại chúng.
- Tranh luận 2 (Hội tụ vs. Phân định chuyên biệt): Stephen Quin (2004) đặt câu hỏi "Better Journalism or Better Profit?" chỉ ra rủi ro suy giảm chất lượng chuyên sâu khi ép buộc nhà báo trở thành người làm việc đa nhiệm ("backpack journalist"); trong khi Yuyan Ernest Zhang (2008) và David Brewer chứng minh hội tụ giúp tối ưu hóa cộng hưởng kinh tế (economic synergies) và tạo lợi thế cạnh tranh.
Định vị của luận án: Luận án lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách kết hợp lý thuyết hội tụ của phương Tây với thực tiễn quản lý hành chính công tại một quốc gia đang phát triển có hệ thống chính trị đơn đảng. Luận án so sánh sâu sắc mô hình phân tán truyền thống với các mô hình hội tụ tại Hoa Kỳ (Tampa News Center, 2004; The New York Times, 2007), Vương quốc Anh (Telegraph Media Group, 2006) và Thụy Điển (Goteborgs-Posten - theo nghiên cứu của Cross Media News Work, 2011).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Quản trị Hành chính công của Max Weber và Lý thuyết Tổ chức của P.M. Kerzhentsev khi áp dụng vào loại hình đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù là CQBCĐP.
MÔ HÌNH HỘI TỤ 3C CHO CQBCĐP
- Mở rộng lý thuyết cấu trúc tổ chức khu vực công: Xác lập mô hình "Cơ quan báo chí hội tụ 3C" (Convergence of Structure, Convergence of Content, Convergence of Capacity). Luận án chứng minh rằng việc duy trì cấu trúc nhị phân "Báo Đảng thuộc Tỉnh ủy - Đài PTTH thuộc UBND tỉnh" tạo ra sự phân mảnh thể chế (institutional fragmentation), làm tăng chi phí giao dịch công và triệt tiêu khả năng liên thông dữ liệu.
- Chuyển dịch mô thức (Paradigm shift): Luận án thúc đẩy sự chuyển dịch từ mô thức quản trị kiểm soát hành chính truyền thống (Administrative Control Paradigm) sang mô thức Quản trị truyền thông công hiện đại (New Public Communication Governance), trong đó CQBCĐP được vận hành như một tổ hợp truyền thông đa phương tiện phục vụ lợi ích công dân.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành 3 trụ cột lý thuyết:
- Lý thuyết Tổ chức hệ thống (A. Ovexkin, Nguyễn Bá Dương): Tiếp cận CQBCĐP như một hệ thống mở gồm 7 yếu tố cấu thành (mục tiêu, cơ cấu tổ chức, phương pháp, con người, cơ sở vật chất, tài chính, kiểm tra đánh giá).
- Lý thuyết Hội tụ 6 cấp độ (Rich Gordon, 2003): Đánh giá mức độ tích hợp từ hạ tầng mạng, quy trình tòa soạn, văn hóa làm báo đến phân phối đa nền tảng.
- Lý thuyết Giá trị công (Public Value Theory): Đánh giá đầu ra của báo chí địa phương dựa trên sự hài lòng của công chúng, mức độ lan tỏa chính sách và sự minh bạch thông tin.
Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích vận hành trong khuôn khổ thể chế chính trị Việt Nam, nơi không có báo chí tư nhân; các CQBCĐP chịu sự lãnh đạo toàn diện của Tỉnh ủy/Thành ủy và sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông cùng UBND cấp tỉnh.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường bản thể luận hiện thực phản tư (critical realism) kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp đa cấp độ (multi-level mixed methods design):
QUY TRÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Phân tích tổng thể 63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc thông qua hệ thống dữ liệu thống kê quản lý nhà nước về sắp xếp cơ quan báo chí theo Quyết định 362/QĐ-TTg.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Nghiên cứu trường hợp điển hình (case studies) tại các mô hình đổi mới tiên phong: Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh (thành lập trên cơ sở hợp nhất Báo Quảng Ninh, Đài PTTH Quảng Ninh, Báo Hạ Long, Cổng Thông tin điện tử tỉnh) và Đài PTTH & Báo Bình Phước.
Quy trình nghiên cứu và công cụ thu thập dữ liệu
- Phương pháp hồi cứu tài liệu thể chế: Phân loại và phân tích hệ thống văn bản pháp quy từ Luật Báo chí 2016, Quy định số 338-QĐ/TW của Ban Bí thư, Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV đến các văn bản hướng dẫn triển khai Quyết định 362/QĐ-TTg.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia sâu (In-depth qualitative interviews): Phỏng vấn có cấu trúc và bán cấu trúc lãnh đạo Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông), Vụ Báo chí (Ban Tuyên giáo Trung ương), Tổng biên tập, Giám đốc các đài PTTH, nhà báo thực địa và giảng viên chuyên ngành báo chí tại các cơ sở đào tạo lớn.
- Tam giác hóa (Triangulation): Kết hợp tam giác hóa dữ liệu (số liệu báo cáo ngành, khảo sát thực tế, tài liệu lưu trữ), tam giác hóa phương pháp (định lượng mô tả, phân tích định tính văn bản, so sánh thể chế) và tam giác hóa lý thuyết để đảm bảo độ tin cậy và giá trị nội tại (internal validity).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
KẾT QUẢ SẮP XẾP BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG
- Sự phân hóa sâu sắc trong tự chủ tài chính và lãng phí nguồn lực công: Luận án chỉ ra nghịch lý tài chính nghiêm trọng trong hệ thống báo chí công lập: Trong khi cả nước có khoảng 300 cơ quan báo in đạt tự chủ tài chính thì chỉ có 10/72 đài PTTH tự chủ hoàn toàn. Tại các địa phương duy trì mô hình tách rời, tình trạng "nợ nhuận bút, thiếu kinh phí hoạt động, cắt giảm nhân sự" diễn ra phổ biến. Mô hình "tòa soạn mẹ - tòa soạn con" làm phát sinh chi phí vận hành trùng lặp ước tính 25-30% ngân sách chi thường xuyên của tỉnh dành cho sự nghiệp thông tin.
- Hiện tượng "Trùng lặp nội dung" và xung đột luồng thông tin: Các CQBCĐP truyền thống có xu hướng sản xuất các sản phẩm thông tin phản chiếu lẫn nhau (báo in đưa lại thông tin của báo nói/báo hình hoặc trang tin điện tử sao chép nguyên văn báo in), gây lãng phí băng thông và làm suy giảm sự chú ý của công chúng địa phương.
- Đột phá về hiệu suất từ mô hình hợp nhất Quảng Ninh và Bình Phước: Việc tích hợp cả 4 loại hình báo chí (in, hình, nói, điện tử) trong một tổ chức giúp tinh gọn đầu mối phòng ban (giảm 30-40% số lượng phòng ban trung gian), hình thành quy trình sản xuất tin bài tập trung (Central Newsroom Engine), từ đó tăng tốc độ phát luồng tin tức lên 50% và tối ưu hóa 100% tài nguyên phóng viên tác nghiệp tại hiện trường.
- Rào cản thể chế kép (Double institutional barrier): Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở công nghệ mà ở sự thiếu đồng bộ giữa cơ quan chủ quản (Tỉnh ủy quản lý Báo Đảng; UBND tỉnh quản lý Đài PTTH) và khoảng trống pháp lý của Luật Báo chí 2016 khi chưa ban hành quy định pháp lý minh định cơ chế vận hành cho mô hình "Trung tâm Truyền thông cấp tỉnh".
Implications đa chiều
- Về mặt học thuật: Cung cấp luận cứ khoa học đầu tiên giải quyết bài toán cơ cấu tổ chức CQBCĐP dưới góc độ Quản lý công tại Việt Nam giai đoạn hậu quy hoạch 2019–2024.
- Về mặt chính sách và thực tiễn:
- Hoàn thiện thể chế: Sửa đổi Luật Báo chí 2016 và hoàn thiện quy định pháp lý công nhận tư cách pháp nhân độc lập của mô hình Cơ quan Báo chí Hội tụ cấp tỉnh.
- Tái cấu trúc quy trình tác nghiệp: Xây dựng hệ thống quản trị nội dung tích hợp (Convergent CMS), tổ chức phòng họp giao ban đa phương tiện và chuẩn hóa chức danh "nhà báo đa năng".
- Tự chủ tài chính gắn với đặt hàng dịch vụ công: Chuyển từ cơ chế cấp phát ngân sách bình quân sang cơ chế Nhà nước đấu thầu, đặt hàng nhiệm vụ truyền thông chính sách theo định mức kinh tế - kỹ thuật.
Limitations và Future Research
- Hạn chế về dữ liệu định lượng vi mô: Do tính chất bảo mật và sự phân tán trong báo cáo tài chính của các CQBCĐP, luận án chưa thể thực hiện mô hình hồi quy đa biến kiểm định tương quan giữa mức độ tự chủ tài chính và chỉ số tiếp cận công chúng trên toàn bộ 63 tỉnh thành.
- Điều kiện biên không gian: Các mô hình hội tụ thành công (Quảng Ninh, Bình Phước) có đặc thù về tiềm lực kinh tế địa phương vượt trội, do đó mức độ khái quát hóa sang các tỉnh miền núi khó khăn cần có độ trễ và điều chỉnh cơ chế hỗ trợ ngân sách.
- Hướng nghiên cứu tương lai (5-10 năm tới):
- Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (Generative AI) và Dữ liệu lớn (Big Data) trong việc tự động hóa sản xuất tin tức địa phương và cá nhân hóa trải nghiệm công chúng.
- Đo lường giá trị công (Public Value Index) của truyền thông địa phương trên các nền tảng mạng xã hội (TikTok, Zalo, YouTube).
- Cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển hạ tầng kỹ thuật số cho báo chí khu vực công.
Tác động và ảnh hưởng
MA TRẬN TÁC ĐỘNG
- Tác động học thuật: Định hình hướng nghiên cứu liên ngành Quản lý công - Truyền thông học tại Việt Nam, dự kiến thu hút trích dẫn học thuật cao trong các công trình nghiên cứu về đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập.
- Tác động chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực tiễn trực tiếp cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc tổng kết Quyết định 362/QĐ-TTg và xây dựng chiến lược phát triển báo chí Việt Nam giai đoạn 2025–2030.
- Tác động ngành và kinh tế - xã hội: Giúp chính quyền các địa phương tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng ngân sách chi thường xuyên thông qua tinh giản bộ máy cơ quan báo chí, đồng thời cung cấp dịch vụ thông tin chính xác, đa chiều cho hơn 100 triệu người dân.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học giả: Tiếp cận khung phân tích 3C, mô hình tích hợp lý thuyết quản trị tổ chức và các bộ dữ liệu thực chứng về báo chí địa phương sau quy hoạch.
- Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ TTTT, Ban Tuyên giáo TW, Bộ Nội vụ): Nắm giữ các đề xuất cụ thể để sửa đổi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh và mô hình tổ chức báo chí công lập.
- Ban Giám đốc, Tổng biên tập CQBCĐP: Bộ công cụ thực tiễn để tái thiết kế sơ đồ tổ chức, cơ cấu lại phòng ban, đào tạo kỹ năng phóng viên đa phương tiện và xây dựng phương án tự chủ tài chính.
- Công chúng địa phương: Được thụ hưởng các sản phẩm truyền thông chất lượng cao, đa nền tảng, phản ánh kịp thời hơi thở đời sống kinh tế - xã hội địa phương.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Cấu trúc tổ chức của Max Weber và P.M. Kerzhentsev sang lĩnh vực truyền thông công tại Việt Nam bằng việc thiết lập khung phân tích "Cơ quan báo chí hội tụ 3C" (Cấu trúc - Nội dung - Năng lực). Luận án chứng minh rằng sự phân tách thể chế giữa Báo Đảng và Đài PTTH là nguyên nhân căn bản tạo ra sự kém hiệu quả trong việc cung ứng dịch vụ thông tin công.
2. Điểm đổi mới về mặt phương pháp luận so với các nghiên cứu trước?
So với nghiên cứu của Nguyễn Vũ Tiến (2003) và Nguyễn Thị Mai Anh (2016), luận án không dừng lại ở phân tích định tính quy phạm mà thực hiện phương pháp nghiên cứu tình huống sâu (in-depth case study) kết hợp so sánh thể chế trước và sau khi thực thi Quyết định 362/QĐ-TTg trên phạm vi toàn quốc (232 CQBCĐP), đối chiếu trực tiếp giữa mô hình truyền thống và mô hình hợp nhất thực nghiệm (Quảng Ninh, Bình Phước).
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng?
Dữ liệu chỉ ra sự tương phản gay gắt về năng lực tài chính: Trong khi báo in địa phương có tỷ lệ tự chủ tương đối khá, thì khối đài PTTH địa phương có mức độ phụ thuộc ngân sách nhà nước lên tới hơn 86% (chỉ 10/72 đài tự chủ toàn quốc), đập tan định kiến truyền thống cho rằng đài truyền hình luôn có nguồn thu quảng cáo dồi dào hơn báo in.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication protocol)?
Có. Luận án cung cấp chi tiết tiêu chí phân loại tổ chức, danh mục bảng hỏi phỏng vấn bán cấu trúc cho chuyên gia và lãnh đạo cơ quan báo chí, cùng khung đánh giá mức độ hội tụ tòa soạn có thể áp dụng để đánh giá bất kỳ cơ quan báo chí cấp tỉnh nào.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được phác thảo như thế nào?
Tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Mô hình kinh tế báo chí số và cơ chế đặt hàng báo chí công lập; (2) Tích hợp Trí tuệ nhân tạo và Tự động hóa trong quản trị tin tức địa phương; (3) Khung quản trị rủi ro thông tin và khủng hoảng truyền thông trên không gian mạng của chính quyền địa phương.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của CQBCĐP với tư cách là đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù trong nền báo chí cách mạng Việt Nam.
- Đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức và hoạt động của 232 CQBCĐP sau khi thực hiện sắp xếp theo Quyết định 362/QĐ-TTg, chứng minh sự tất yếu khách quan của việc chuyển đổi sang mô hình cơ quan báo chí hội tụ.
- Nhận diện chính xác 4 nhóm nguyên nhân (thể chế, mô hình tổ chức, nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính - kỹ thuật) dẫn đến những hạn chế, chồng chéo chức năng của hệ thống báo chí địa phương hiện nay.
- Đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, sắp xếp bộ máy theo mô hình hội tụ, chuẩn hóa đội ngũ nhà báo đa năng, đổi mới cơ chế tài chính và gia tăng tương tác công chúng.
- Mở ra các hướng nghiên cứu mới về quản trị truyền thông số, kinh tế báo chí công lập và ứng dụng công nghệ thông minh trong khu vực công.
- Xác lập giá trị ứng dụng thực tiễn lâu dài, đóng vai trò là cẩm nang khoa học cho các cơ quan hoạch định chính sách trung ương và chính quyền địa phương trong công cuộc hiện đại hóa hệ thống báo chí Việt Nam giai đoạn 2024–2030.