CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH T ổ CHỨC VÀ s ử DỤNG TÀI LIỆU TRONG KHO LUU TRỮTRƯNG UƠNCi ĐẢNG PHỤC v ụ NGHIÊN c ú u LỊCH SỬĐẢNG (giai đoạn 1930 - 1945). Vị trí và V nghĩa của tài liệu lưu trữ với việc nghiên cứu lịch sử Đảng. “Tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá tri được lựa chọn trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân được bảo quản cố định trong các lưu trữ để khai thác phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, lịch sử.
của toàn xã hội” [9.72], Khái niệm này nói lên rằng, phần lớn tài liệu lưu trữ có nguồn gốc là tài liệu văn thư (tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, đoàn thể.), nhưng không phải là tất cả tài liệu văn thư đều trở thành tài liệu lưu trữ, mà chúng chỉ gồm những tài liệu có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, lịch sử. và chỉ khi những tài liệu đó được đưa vào bảo quản trong các phòng, kho lưu trữ, thì mới gọi là tài liệu lưu trữ. Tài liệu lưu trữ có các đặc điểm sau: Thứ nhất, tài liệu lưu trữ chứa đựng những thông tin về quá khứ. Bởi vì tài liệu lưu trữ được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, do đó tài liệu lưu trữ chứa đựng các thông tin phản ánh về các sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử, những hoạt động của một nhà nước, một cơ quan hoặc một cá nhân trong quá trình tồn tại.
Thứ hai, tài liệu lun trữ là bản gốc, bản chính của các văn bản, nói theo ngôn ngữ thồng tin, đó là những tài liệu chứa đựng thông tin cấp một. Chúng mang những bằng chứng thể hiện độ chân thực cao như bút tích của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả, chữ ký của người có thẩm quyền, dấu của cơ quan, địa danh và ngày tháng làm ra văn bản. được lưu giữ và bảo quản trong các kho lưu trữ với các ký hiệu lưu trữ được xác định cho từng tài liệu, từng đom vị bảo quản trong kho. Chính do dặc điểm này, nên tài liệu lưu trữ có một giá trị đặc biệt, nhất là ở khía cạnh sử liệu, tài liệu lưu trữ được coi là tư liệu gốc, sử liệu gốc phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu lịch sử.
Thứ ba, ở Việt nam tài liệu lưu trữ do Đảng và Nhà nước quản lý thống nhất, được tập trung bảo quản và đưa ra sử dụng theo những quy định chặt chẽ. Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lun trữ quốc gia nêu rõ: “Tài liệu lưu trữ quốc gia thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý theo nguyên tắc tập * trung thống nhất; không một cơ quan, tập thể hoặc cá nhân nào được chiếm làm của riêng” [47. Phông lưu trữ Quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “toàn bộ tài liệu có ý nghĩa thực tiễn và lịch sử về chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá- xã hội thuộc sở hữu Quốc gia, không phụ thuộc vào thời gian sản sinh ra, phương pháp và kỹ thuật chế tác, được bảo quản trong các kho lưu trữ của Đảng, Nhà nước và kho lun trữ của các tổ chức thuộc thành phần kinh tế- xã hội khác trong toàn quốc.64] Tài liệu lưu trữ Quốc gia là tài liệu lưu trữ thuộc sở hữu toàn dân, gồm tài liệu phông lưu trữ Nhà nước Việt Nam và tài liệu phông lưu trữ Đảng cộng sản Việt Nam. Phông lưu trữ Nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “toàn bộ tài liệu lun trữ có ý nghĩa thực tiễn và lịch sử về chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá- xã hội.
thuộc sở hữu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phụ thuộc vào thời gian sản sinh, phương pháp và kỹ thuật chế tác, được bảo quản trong các kho lưu trữ của Nhà nước. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phóng lưu trữ Đảng cộng sản Việt Nam là: “toàn bộ tài liệu lưu trữ của Đaig và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn và lien sử vể chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá- xã hội. thuộc sở hữu của Đang cộng sản Việt Nam, không phụ thuộc v à o thời gian sản s i n h , phương ph-íp và kỹ thuật chế tác, được bảo quản trong hệ thống các kho lưu trữ của Đmg” [9.63] Xuất phát từ đặc thù của hệ thống chính trị ở nước ta với cơ chế Đảng lãrh đạo Nhà nước, đồng thời học tập kinh nghiệm của các nước xã hội chủ ngiĩa về công tác lưu trữ, từ cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, ở nưSc ta đã hình thành 2 tổ chức lưu trữ độc lập: lưu trữ Đảng và lưu trữ Nhà niức. Năm 1959, Ban Bí thư trung ương Đảng (Khoá II) ra thông tri sổ' 25)-TT/TW “Một số điểm về công tác lưu trữ công văn tài liệu” có đoạn nêj: “Mỗi cơ quan (hành chính, sự nghiệp, xí nghiệp, đơn vị quân đội, taờng học, chi bộ.) dù to, nhỏ đều phải để ra phần việc lưu trữ, nhằm: sưu tần, thu thập, thống kê, sắp xếp và bảo quản những hồ sơ, văn kiện cần thết của cơ quan mình, nhằm trước mắt phục vụ cho công tác của cơ quan, đcng thời cũng để sau này chọn những thữ cần thiết đưa vào kho lưu trữ của Đaig hay Nhà nước” [28.2] Đến năm 1962 Cục lưu trữ Nhà nước được thành lập theo nghị định số 102-CP của Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 4-9-1962, với chức năng quín lý tài liệu lưu trữ của Nhà nước và nghiên cứu, hướng dẫn chỉ đạo ngiiệp vụ lưu trữ đối với các cơ quan chính quyền và đoàn thể.
Phòng lưu trì Văn phòng Trung ương được thành lập từ năm 1958 với chức năng quản lý Kho lun trữ Trung ương và hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ văn thư lưu trữ cá; cấp uỷ Đảng. Tuy nhiên đến năm 1971 mới có chỉ thị số 187-CT/TW củi Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá III) ban hành ngày 4-1-1971 “về viíc tập trung quản lý những tài liệu văn kiện, tư liệu và hiện vật thuộc về lịci sử Đảng và lịch sử dân tộc”, trong đó quy định: ’’Những tài liệu văn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiện và tư liệu lịch sử của Đảng bao gồm: Những tài liệu văn kiện và tư liệu nói lên chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và của Mặt trận dân tộc thống nhất hoặc các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận qua các thời kỳ vận động cách mạng Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc nước ta. Những tài liệu văn kiện và tư liệu của chính quyền thực dân và phong kiến có liên quan đến hoạt động của Đảng ta. Những tài liệu văn kiện và tư liệu thuộc vể chủ trương và chính sách cụ thể do chính quyền nhân dân và các cấp chỉ huy của quân đội nhân dân Việt Nam ban hành thì do các cơ quan lưu trữ của quân đội và Nhà nước phụ trách thu thập và bảo quản” [28.3] Chỉ thị 187 - CT/TW cũng giao trách nhiệm cho Văn phòng Trung Ương Đảng giúp Trung ương: sưu tầm, thu thập, xác minh và chỉnh lý ĩihững tài liệu văn kiện của Đảng và tổ chức quản lý tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng và tổng kết kinh nghiêm cách mạng Việt Nam; theo dõi và hướng dẫn các cấp uỷ Đảng và các Ban chuyên môn của Đảng thi hành chỉ thị này.
Chỉ thị 187 của Ban Bí thư đã đặt nền móng bước đầu cho việc hình thành phông lưu trữ và hệ thống lưu trữ của Đảng. Nãm 1987, phồng lưu trữ Đảng cộng sản Việt Nam mới chính thức được thành lập theo Quyết định số 20-QD/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá VI) ban hành ngày 23-9-1987 “về phông lưu trữ Đảng cộng sản Việt Nam”. Quyết định 20-QD/TW nêu rõ: “tài liệu phông lưu trữ Đảng cộng sản Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ tài liệu lưu trữ quốc gia, là di sản văn hoá vô cùng quý báu của Đảng và của dân tộc ta, thuộc sở hữu của toàn Đảng” [28.6] Tại hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định 20-QĐ/TVV của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Phông lưu trữ Đảng cộng sản Việt Nam (1987-1997), đồng chí Lê Khả Phiêu, uỷ viên Thường vụ, Thường trực Bộ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính trị cũng đã khẳng định lại một lần nữa quan điểm của Đảng về tài liệu lưu trữ tài liệu liệu lưu trữ là di sản văn hoá của dân tộc, là tài sản quốc gia, và tài liệu lưu trữ của Đảng là một bộ phận có giá trị đặc biệt trong toàn bộ tài liệu lưu trữ quốc gia. Tài liệu lưu trữ phải được quản lý theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong hệ thống các cơ quan lun trữ của Nhà nước và của Đảng nhằm bảo vệ an toàn và khai thác sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ vì lợi ích của dân tộc, của cách mạng.
Mọi cơ quan, mọi cán bộ đảng viên và mọi công dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ tài liệu lưu trừ quốc gia”.2], Tài liệu lưu trữ do nguồn gốc hình thành và với những đặc điểm riêng của nó, được xác định là nguồn sử liệu quý báu, là chứng cứ xác thực của lịch sử, có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu lịch sử. Như chúng ta đã biết, hoạt động chủ yếu của khoa học lịch sử là nhận thức quá khứ, phân tích quá trình phát triển của các sự kiện lịch sử nhằm khái quát thành những quy luât, những bài học lịch sử để phục vụ cho những nhu cầu của đời sống xã hội hiện tại. Để thực hiện được các nhiệm vụ đó, khoa học lịch sử phải dựa vào các nguồn sử liệu. Sử liệu luổn luôn là cơ sở.
là phương tiện để nhận thức lịch sử. Nếu không có nguồn sử liệu thì không thể tiến hành được việc nghiên cứu lịch sử. v ề vai trò của sử liệu trong nghiên cứu lịch sử, chúng ta đều biết rằng: nghiên cứu lịch sử là nghiên cứu một sự kiện, một quá trình lịch sử cụ thể. Trên cơ sở xác định giới hạn của chủ đề của một đối tượng nghiên cứu về không gian, thời gian, người nghiên cứu cũng xác định giới hạn của nguồn sử liệu.
“Nếu như nguồn sử liệu không được phát hiện thì cũng không có khả năng thực hiện để tài. Điều đó nói lên nguồn sử liệu là phương tiện, là cơ sở để nhận thức sự kiện lịch sử.