Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VE TRUYEN HÌNH TREN INTERNET VÀ TO CHỨC SAN XUẤT SAN PHAM TRUYEN HÌNH INTERNET 1. Một số khái niệm có liên quan tới đề tài Ll. Truyén hinh trén Internet (OTT) OTT là từ viết tắt tiếng Anh của Over The Top. Đây là giải pháp cung cấp nội dung như hình ảnh, tin nhắn, gọi điện cho người dùng dựa trên việc tận dụng không gian rộng lớn Internet.
OTT có thể sử dụng mượt mà trên nhiều thiết bị điện thoại, tablet, laptop hay TV thông minh. Bat cứ tài khoản nào có kết nối Internet đều có thê đăng nhập và trải nghiệp OTT ở bắt cứ đâu. Trong bối cảnh Internet ngày càng phát triển và phố biến thì OTT cũng ngày càng phát triển với các hình thức truyền phát video một cách nhanh chóng, chất lượng hình ảnh, âm thanh chất lượng cao đến người dùng. Có thể kế đến một số nền tảng phổ biến trên thế giới hiện nay như: YouTube, Netflix, TIkTok, Facebook, Instagram.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông “Zruyén hình trên Internet” - Internet TV là từ dùng dé chỉ dịch vụ cung cấp các chương trình phát thanh, truyền hình như: thời sự, văn nghệ, thé thao, phim truyén.qua mạng Internet. Như vậy thay vì phát qua vô tuyến hoặc cáp truyền hình, loại truyền hình này sẽ phát qua mạng Internet. Một trong những điều kiện dé có thể xem truyền hình Internet chính là người xem phải có thiết bị: smart TV, smart phone hoặc một thiết bị thông minh.có kết nối Internet. Với tốc độ phát triển mạnh mẽ của Internet hiện nay, truyền hình trên Internet đang trở thành một lựa chọn tối ưu cho nhiều gia đình hiện đại.
Người dùng có thể xem truyền hình Internet theo hai phương thức là xem trực tiếp theo thời gian thực Real-time, tải file chương trình về máy tính cá nhân hoặc xem lại trên các nền tảng mạng xã hội. Chính nhờ điều này mà so với truyền hình truyền thống phát sóng theo khung giờ đã định, việc xem truyền hình Internet khiến cho khán giả được chủ động hơn trong việc tiếp nhận các chương trình đã phát sóng. 20 So với truyền hình phát sóng vệ tỉnh, phát sóng trên hệ thống truyền hình cáp thì truyền hình Internet có một số ưu điểm khá nồi bật như: Đa dạng về các kênh chương trình: Hiện có hàng trăm kênh chương trình thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên các nền tảng Internet. Các chương trình này chủ yêu được sản xuất bởi các Đài truyền hình, các kênh truyền hình, do đó có thé đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nghe nhìn ngày càng cao của đông đảo công chúng.
Cho phép người dùng chủ động lựa chọn chương trình yêu thích: Truyền hình trên Internet được coi như là một kho lưu trữ tư liệu khổng lồ. Nếu như trước đây, dé đón xem một chương trình truyền hình yêu thích khán giả sẽ phải căn đúng giờ phát sóng để đón xem. Nếu có việc bận không xem được thì ở một số chương trình có thêm 1 khung phát lại. Và, nếu không xem được khung phat lại thì sẽ bị bỏ lỡ chương trình.
Điều này sẽ được khắc phục hoan toàn thậm chi là rất tốt đối với truyền hình Internet. Các chương trình truyền hình khi được phát sóng trên Internet sẽ được lưu lại trên nền tảng đó. Nếu không xem được buổi phát sóng trực tiếp, công chúng có thé tìm kiếm và xem lại vào bất cứ lúc nào và bat cứ nơi đâu miễn là có thiết bị thông minh kết nối mạng Internet. Chất lượng hình ảnh, âm thanh tốt nhất: Hầu hết các chương trình truyền hình Internet hiện nay đều đang hỗ trợ giải mã Ultra HD, 4K hoặc Full HD cho hình ảnh sinh động, rõ nét.
Nhờ đó công chúng sẽ được trải nghiệm các chương trình, bộ phim với chất lượng tốt nhất. Tổ chức sản xuất sản phẩm truyén hình trên Internet Trước tiên có thé khang định truyền hình là một sản phẩm của tập thé bao gồm nhiều chức danh và vị trí. Trong đó tô chức sản xuất có vị trí và nhiệm vụ rất quan trọng, giống như một trưởng ekip dé tiến hành điều phối cả về nội dung và nhân sự, chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm và tiến độ thực hiện sản phẩm truyền hình. 21 Về mặt nội dung: Tổ chức sản xuất là người chịu trách nhiệm chính về nội dung cho một sản phẩm truyền hình, bảo vệ đề tài của cả ekip trước Lãnh đạo Kênh và Hội đồng biên tập.
Chịu trách nhiệm giải trình những vấn đề có liên quan phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình truyền hình. Tổ chức sản xuất cũng là người lên bố cục nội dung cho một chương trình, một bản tin. Đưa ra thông điệp chủ chốt và tư tưởng chủ đề của chương trình và yêu cầu các chất liệu cần thiết dé thé hiện thông điệp va tư tưởng chủ dé cho chương trình đó. TCSX là người kiểm duyệt lần đầu các đề cương đi quay, các kịch bản nội dung, chỉnh sửa theo ý đồ nội dung của mình trước khi trình cấp Lãnh đạo Kênh duyệt kịch bản.
Việc kiểm duyệt sản phâm lần đầu cũng là công việc của TCSX. Như vậy có thể thấy rằng, TCSX là một chức danh, một vị trí then chốt của một quy trình sản xuất sản phẩm truyền hình. Vị trí này nắm giữ vai trò điều phối, điều tiết và quyết định sự ra đời cũng như chất lượng của một tác phâm truyền hình. TCSX có quyên chỉnh sửa nội dung, thêm hoặc cắt bớt nội dung sao cho tác phẩm đạt chất lượng tốt nhất.
Về mặt tổ chức nhân sự: Tô chức sản xuất là người phân công nhân sự triển khai đề tài khi đề tài, bản tin đã được lãnh đạo Kênh hoặc Hội đồng biên tập thông qua. Như vậy, trên TCSX là Lãnh đạo Kênh và Hội đồng Biên tập dưới TCSX là các phóng viên, biên tập viên. Ngoài ra mỗi một tác phẩm truyền hình được sản xuất còn phải phối hợp với các bộ phận khác trong cùng một đơn vị như: Khối hành chính - kế toán: phối hợp với TCSX thực hiện việc lên dự toán kinh phí phục vụ cho việc sản xuất một chương trình. Sau khi kinh phí được phê duyệt các nhân sự thực hiện sẽ căn cứ vào kinh phí được phép chi của chương trình dé tiến hành sản xuất.
Thông thường kinh phí sản xuất thực tế không được lớn hơn kinh phí dự toán đã được phê duyệt. Nếu chi kinh phí lớn hơn phải có sự phê duyệt bổ sung của Lãnh đạo Kênh va ekip sản xuất mà cụ thé là TCSX sẽ phải giải trình về các khoản vượt dự toán so với kinh phí được phê duyệt ban đầu. 22 Khối thể hiện: Thực hiện các nhiệm vụ về mặt hình ảnh như: quay phim, kỹ thuật tiền kỳ, đồ hoạ, đạo diễn trường quay, kỹ thuật trường quay. Khối thư ký biên tập và MC: Thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến trường quay như: chuẩn bị kịch bản đã được duyệt, chạy máy nhắc chữ cho MC, sắp xếp bar chữ nhân vật phỏng van, làm thủ tục nghiệm thu chương trình.
MC thực hiện nhiệm vụ dẫn chương trình. Khối hậu kỳ: Thực hiện nhiệm vụ hậu kỳ tác phẩm theo kịch bản đã được phê duyệt. Chau chuốt lại hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng, ánh sáng.cho cả một chương trình trước khi TCSX xem lần 1 sau đó trình lên Lãnh đạo Kênh và Hội đồng nghiệm thu xem đề phát sóng. Khối nội dung số: Xuất bản các sản phẩm truyền hình sau khi chương trình được phê duyệt và nghiệm thu bởi Hội đồng nghiệm thu của Đài.
Tiếp nhận những phản hồi từ bộ phận nội dung số nếu có những phản hồi đáng chú ý từ khán giả. Từ đó đưa ra các phương án giải quyết tiếp theo. Tổ chức sản xuất của một chương trình truyền hình sẽ là người điều phối và phối hợp với tất cả các vị trí như trên trong một quy trình sản xuất dé cho ra đời một tác phâm truyền hình. Với các chương trình lớn, có quy mô thì sẽ có nhiều TCSX cùng tham gia và có thêm trợ lý TCSX giúp việc trong việc điều phối quy trình sản xuất dé các khâu tiễn hành một cách nhịp nhàng.
Hoạt động TCSX cho một chương trình truyền hình được điều hành bởi một hoặc nhiều TCSX sao cho chương trình truyền hình đạt được các yêu cầu sau: Thir nhất, đảm bảo về mặt tiến độ dé kịp thời lên sóng hoặc xuất bản lên các nền tảng số; Thi hai, đảm bảo về mặt chất lượng nội dung chương trình, không dé xảy ra lỗi trong một tác phẩm truyền hình; Thi? ba, điều phối một cách hài hoà sự phối hợp giữa các bộ phận trong cùng một đơn vị nhằm đạt được hiệu quả công việc cao nhất. Video trực tuyến Trong một thế giới kết nối Internet, video trực tuyến đã trở thành một phương tiện truyền đạt quan trọng cho các báo chí xuất bản, các Đài truyền hình. 23 Đó là cách dé thu hút công chúng đón xem những chương trình trực tiếp, các tin tức thời sự tức thì. Do đó các nhà báo được yêu cầu quay video làm tin ở bất cứ đâu có thé.
Điều này không chỉ xảy ra ở các toà soạn báo in, báo mạng điện tử mà truyền hình cũng đang tham gia tích cực vào việc sản xuất các video trực tuyến. Nhiều Đài truyền hình hiện đã áp dụng phương pháp sản xuất “ưu tiên cho web”. Trong đó video được sản xuất cho thiết bị di động và trực tuyến trên Internet trước khi phát sóng trên sóng truyền hình vệ tỉnh hoặc truyền hình cable. Ví dụ, trong báo cáo Stringer năm 2014 của BBC, người ta nói răng các phóng viên cần biết “ưu tiên hàng đầu của họ là cung cấp video trực tuyến, video phải có tính tức thời, kết nỗi và cá tính” (Stringer, 2014).
Ngay cả radio cũng mang tính nghe nhìn, các cuộc phỏng van tại phòng thu thường xuyên được phát trực tuyến, có phóng viên quay video dé phát lên mạng xã hội. 344] Tháng 12/2010 là một thời điểm quan trọng đối với video tin tức trực tuyến. Vào cuối năm đó, nền tảng video Brightcove báo cáo rằng lần đầu tiên báo chí phát nhiều phút nội dung trực tuyến bằng dịch vụ hơn so với các đài truyền hình (Brightcove và Tubemogul, 2010). Duong như video không chỉ có nghĩa là “TV trực tuyến”.
Cách khán giả tiếp nhận tin tức trên truyền hình và cách tiếp cận tin tức trực tuyến là khác nhau. John Domokos của Guardian cho rằng: “Video trực tuyến không nên bắt chước TV. Dé bắt đầu, bạn phải hình dung đến một người đang ngồi trước máy tinh, tìm và xem — nó có thé nằm trong khung hình nhỏ. Đó là một môi trường riêng biệt hơn nhiều.
Bạn phải thu hút sự chú ý của họ rất nhanh, trong vài giây”.