Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nhằm góp phần hoàn thiện các vấn đề về lý luận và thực tiễn về pháp luật hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và các hoạt động tư pháp nói chung. Các nghiên cứu về luật sư, pháp luật về luật sư, pháp luật về tổ chức luật sư, pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư v.v…đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều chuyên gia pháp luật quan tâm và các đề tài nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau trong lĩnh vực pháp luật về hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, pháp luật về luật sư rất đa dạng và phong phú trong thời gian qua. Các nghiên cứu này cũng đã chỉ ra các yếu tố tác động đến nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, quản trị công ty luật, v.
Tác giả xin trình bày khái quát một số nghiên cứu liên quan đó là: Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận chung về luật sư và vai trò của luật sư - Luận án tiến sĩ (2003), Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam hiện nay của tác giả Phan Trung Hoài [90]. Nội dung của luận án đề cập đến các vấn đề cơ bản về lý luận, cơ sở lý luận của việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động luật sư. Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về luật sư ở Việt Nam, phương hướng hoàn thiện pháp luật về luật sư. Với nghề luật sư ở Việt Nam, tác giả có đưa ra định nghĩa nghề luật sư, theo tác giả Phan Trung Hoài: “Nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”[90,tr.
Ngoài ra, nội dung luận án được tác giả đưa ra các khái niệm về luật sư, pháp luật về luật sư, vai trò của pháp luật về luật sư; quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư. Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài tác giả phân tích, đánh giá khá rõ thực trạng pháp luật về luật sư, thực trạng về hoạt động của luật sư. Vì vậy, đề tài đã nghiên cứu và đưa ra đề xuất các 10 giải pháp cơ bản, cụ thể hoàn thiện các quy định pháp luật và thực thi pháp luật về luật sư. Có thể nói, nội dung luận án là một nguồn tài liệu có giá trị không chỉ về mặt lý luận mà còn có giá trị tế, luận án có thể hổ trợ cho quá trình nghiên cứu của các NCS khi thực hiện các đề tài có liên quan đến các chức danh tư pháp.
Tuy nhiên, việc phân tích pháp luật về luật sư của luận án dừng lại ở việc phân tích và luận giải những vấn đề có liên quan đến văn bản pháp luật luật sư trước khi có Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012). Luận án đã đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề có tính lý luận chung về quyền bào chữa của bị can, bị cáo như khái niệm quyền bào chữa của bị can, bị cáo [55,tr.14]; các hình thức bào chữa của Luật sư; cơ sở quy định quyền bào chữa; ý nghĩa của việc thực hiện quyền bào chữa,…tác giả đã trình bày, phân tích các hình thức thực hiện quyền bào chữa, các yếu tố đảm bảo thực hiện quyền bào chữa. Kết quả nghiên cứu bước đầu của luận án đã phân tích, đánh giá phản ánh khá kỹ lưỡng thực trạng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quyền bào chữa của bị can, bị cáo; chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và rút ra các kết luận cần thiết. Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và những kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo.
Có thể nói, đây là công trình khoa học nghiên cứu tìm hiểu, phân tích và đánh giá về quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam. Tuy nhiên, luận án cũng chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu sâu về lý luận và đưa ra các kỹ năng bào chữa của luật sư cũng như giới thiệu về quyền bào chữa ở Việt Nam có liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự. Về chế định bào chữa của luật sư, tác giả chỉ nêu sơ lược mang tính khái quát. - Sách tham khảo (2012), Practical Law Office Management,(Quản lý văn phòng hành nghề luật), của tác giả người Mỹ, Brent D.
Ấn phẩm là một công trình nghiên cứu mà tác giả tập trung vào những vấn đề lý luận về luật sư; văn phòng hành nghề luật; và lý thuyết quản lý văn phòng luật… được thể hiện ở các quan điểm sau: (1) Luật sư tư vấn cho khách hàng về các quyền hợp pháp của họ, đại diện cho khách hàng trong vụ kiện và đàm phán thỏa thuận giữa khách hàng và những 11 người khác. Tùy thuộc vào quy mô của văn phòng luật sư, luật sư cũng có thể có nhiệm vụ hành chính [123, tr. Bên cạnh đó, tác giả còn phân loại có các luật sư trong văn phòng hành nghề luật (ngoài luật sư chủ sở hữu) còn có: (i) luật sư liên kết; (ii) luật sư hợp đồng; (iii) luật sư nhân viên [123, tr. (2) Văn phòng luật là các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, nhưng về cơ bản họ là một doanh nghiệp.
Giống như bất kỳ doanh nghiệp nào, chức năng của họ là kiếm tiền, hoạt động có lãi và kiếm tiền cho chủ sở hữu của họ [123, tr. (3) Tác giả công trình này mô tả các hình thức hành nghề luật sư ở Hoa Kỳ, bao gồm: (i) hành nghề luật sư doanh nghiệp, các luật sư được thuê bởi một công ty thường được gọi là luật sư nội bộ, trong một bộ phận pháp lý của công ty, luật sư chỉ có một khách hàng chính là doanh nghiệp [123, tr.21]; (ii) hành nghề luật sư trong chính phủ: Luật sư của chính phủ, giống như luật sư của công ty, chỉ có một khách hàng [123,tr.23]; (iii) hành nghề trong một văn phòng trợ giúp pháp lý, là một văn phòng luật phi lợi nhuận nhận được tài trợ từ chính phủ và các khoản đóng góp tư nhân để trả tiền đại diện cho những người yếu thế, những người không có khả năng chi trả các dịch vụ pháp lý…[123, tr.23]; (iv) hành nghề luật tư nhân là luật sư làm việc trong công ty luật tư nhân đây là hình thức phổ biến nhất ở Mỹ [123, tr.24]; (v) hành nghề cá nhân, là một luật sư sở hữu và quản lý hành nghề cá nhân. Những người hành nghề cá nhân có thể thuê một luật sư khác làm nhân viên; (4) Công ty luật, ở Mỹ các công ty luật thường được phân loại là nhỏ, vừa hoặc lớn. Công ty luật nhỏ thường có ít hơn 20 luật sư; các công ty luật trung bình thường có từ 20 đến 75 luật sư; các công ty luật lớn có từ 75 đến vài trăm luật sư.
Một vài công ty lớn, đôi khi được gọi là công ty siêu lớn, có từ 500 đến 1000 luật sư trở lên [123, tr. Ngoài ra, nội dung cuốn sách còn quan tâm gợi mở những vấn đề thực tiễn khác như: Hợp nhất và sáp nhập công ty luật; quản trị công ty luật…v,v. Những quan điểm lý luận của tác giả cuốn sách về luật sư, trợ lý luật sư, các hình thức hành nghề luật sư, văn phòng luật, công ty luật tư nhân và quy mô công ty 12 luật ,v.v… rất có ý nghĩa đối với việc nhận diện, phân tích các khía cạnh khác nhau của tổ chức hành nghề luật sư. Nhóm các công trình nghiên cứu về Tổ chức hành nghề luật sư và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tổ chức hành nghề luật sư - Trong số các công trình nghiên cứu có liên quan đến các khía cạnh khác nhau của TCHNLS, tác giả Luận án đặc biệt chú ý đến Đề tài nghiên cứu “Quản trị công ty luật theo pháp luật Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học (2019), của tác giả Nguyễn Văn Bốn [78].
Đề tài của Luận án này đã tiếp cận về quản trị công ty và quản trị công ty luật trên phương diện lý luận và thực tiễn các quy định pháp luật về quản trị công ty luật, trong đó tác giả đã gắn liền với vấn đề hành nghề luật sư và TCHNLS dưới hình thức công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH. Nội dung chủ yếu của luận án này, tác giả đã đề cập đến các vấn đề như: đánh giá khái quát và hệ thống các quan điểm của các chuyên gia trong và ngoài nước về quản trị công ty, từ đó tác giả đưa ra khái niệm về quản trị công ty [78, tr.37]; phân tích những nguyên tắc trong quản trị công ty như: (i) chuyên môn hóa/phân công hóa lao động; (ii) quản trị doanh nghiệp khó có thể thực hiện được nếu không tạo được uy tín lãnh đạo và trách nhiệm giải trình;(iii) quản trị doanh nghiệp gắn liền với nguyên tắc kỷ luật;(iv)Thống nhất về mệnh lệnh;(v) thống nhất về đường lối;(vi)lợi ích chung cần đặt lên trên hết;(vii) thù lao;(viii) tập trung hóa;(ix) xích lãnh đạo;(x) trật tự;(xi) sự công bằng và công lý nên thấm nhuần vào tư tưởng của tổ chức, cả trong nguyên tắc lẫn hành động;(xii) ổn định về thâm niên nhiệm vụ;(xiii) sáng kiến và (xiv) tinh thần đoàn kết [78, tr. Những nguyên tắt này theo NCS là rất cần thiết cho quản trị công ty nói chung và quản trị công ty luật theo pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích và đưa ra các đặc trưng của hoạt động hành nghề luật sư bao gồm: dịch vụ của luật sư hướng tới việc bảo vệ công lý trong từng vụ việc cụ thể; nghề luật sư không phụ thuộc nhiều vào vốn mà phụ thuộc chủ yếu vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư; luật sư hoạt động độc lập hoặc liên kết với nhau theo những hình thức tổ chức luật định; luật sư hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân ngay cả khi tham gia dưới những tổ chức hành nghề.