Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu trong tổng giá trị sản xuất chăn nuôi, cung cấp nguồn thực phẩm quy mô lớn và phụ phẩm cho các ngành liên quan. Năng suất và hiệu quả kinh tế của toàn ngành phụ thuộc chặt chẽ vào đàn lợn nái sinh sản. Sự chuyển dịch phương thức chăn nuôi từ quy mô nông hộ sang mô hình trang trại công nghiệp vừa và nhỏ đặt ra yêu cầu kiểm soát dịch bệnh nghiêm ngặt. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, các bệnh lý sản khoa—điển hình là bệnh viêm tử cung do vi khuẩn cơ hội như Escherichia coli, Streptococcus, Staphylococcus gây ra—thường diễn biến âm thầm nhưng gây tổn thất kinh tế lớn. Bệnh làm giảm tỷ lệ thụ thai, tăng nguy cơ lưu thai, sảy thai, kéo dài khoảng cách giữa các lứa đẻ và làm giảm khả năng sinh sản của đàn nái ở các chu kỳ kế tiếp.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết thực trạng bệnh viêm tử cung tại Trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn Chiêm (xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc) với 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại cơ sở.
  2. Đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị bệnh trên đàn nái mắc bệnh.
  3. Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn Chiêm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản ngoại chuyên phối giống và khai thác con giống (gồm hai giống Landrace và Yorkshire).
  • Phạm vi không gian: Trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Phạm vi thời gian: Theo dõi trực tiếp trong 6 tháng (từ ngày 18/5/2015 đến ngày 18/11/2015) kết hợp hồi cứu số liệu dịch tễ giai đoạn 2013 – 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt giải phẫu và sinh lý bệnh học sản khoa, cơ quan sinh dục của lợn nái thuộc loại tử cung sừng kép (dài 40 – 65 cm), thân tử cung ngắn (5 cm) và cổ tử cung dài (10 cm) có các gờ thịt hình răng lược thông với âm đạo (dài 10 – 12 cm). Đặc điểm đa thai khiến đường sinh dục chịu áp lực cơ học lớn trong quá trình mang thai (trung bình 114 ngày) và khi đẻ. Các yếu tố thúc đẩy viêm tử cung bao gồm: tổn thương cơ giới khi can thiệp đỡ đẻ khó hoặc thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật; sát nhau, thối rữa sản dịch; vệ sinh chuồng trại kém; chuồng nuôi gây xây xát âm môn; khẩu phần mất cân đối dinh dưỡng (thiếu hụt protein, vitamin A gây sừng hóa niêm mạc). Quá trình viêm được phân loại thành ba thể bệnh lý:

  • Viêm nội mạc tử cung: Thể cata cấp tính có mủ hoặc thể màng giả hoại tử.
  • Viêm cơ tử cung: Thể trung bình, tổn thương sâu tầng cơ, dịch màu nâu đỏ tanh thối.
  • Viêm tương mạc tử cung: Thể nặng, dính các cơ quan lân cận, dịch viêm lẫn mủ thối khắm.

Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp thử nghiệm lâm sàng:

  • Phương pháp theo dõi và thu thập dữ liệu: Quan sát lâm sàng trực tiếp trên 554 lợn nái sinh sản; theo dõi trạng thái cơ thể, kiểm tra âm môn và dịch tiết bệnh lý (màu sắc, độ đặc, mùi); sử dụng mỏ vịt y tế kết hợp đèn pin soi kiểm tra tình trạng niêm mạc âm đạo và độ mở của cổ tử cung; thu thập số liệu nhật ký trang trại qua phỏng vấn chủ trại và cán bộ kỹ thuật thú y.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được tổng hợp và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel 2007 theo các công thức xác định tỷ lệ nhiễm (%) và tỷ lệ khỏi bệnh (%).
  • Thiết kế thử nghiệm điều trị: Phân lô so sánh ngẫu nhiên trên 121 lợn nái mắc bệnh viêm tử cung, chia thành 2 lô tương ứng với 2 phác đồ điều trị kết hợp can thiệp tại chỗ và toàn thân:
    • Phác đồ 1 (n = 60 con): Kháng sinh tiêm bắp Pendistrep-LA (hoạt chất: Dihydrostreptomycin sulphate kết hợp Benzathine benzylpenicillin và Procaine benzylpenicillin) liều 200 mg/10 kg thể trọng; kết hợp tiêm bắp Oxytocin (5 ml/con) và thuốc trợ sức (Vitamin B1, B12, C liều 5 ml/con/ngày); thụt rửa tử cung bằng dung dịch sát trùng Biocid-30 pha loãng và nước muối sinh lý NaCl 0,9% (3 – 4 lít/con), sau đó bơm kháng sinh Penicillin phối hợp Streptomycin pha nước cất trực tiếp vào buồng tử cung. Liệu trình 3 – 5 ngày.
    • Phác đồ 2 (n = 61 con): Kháng sinh tiêm bắp Amoxinject (hoạt chất: Amoxycillin 150 mg/ml) liều 150 mg/10 kg thể trọng; kết hợp tiêm Oxytocin, thụt rửa tử cung và sử dụng thuốc trợ lực với hoạt chất, liều lượng và liệu trình tương đương Phác đồ 1.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tầm quan trọng của ngành chăn nuôi lợn trong nền kinh tế, phân tích vai trò quyết định của đàn nái sinh sản đối với quy mô và chất lượng đàn lợn thương phẩm. Chương này chỉ rõ bệnh viêm tử cung là trở ngại lớn gây giảm tỷ lệ thụ thai, sảy thai, hư thai và làm giảm hiệu quả khai thác kinh tế của đàn nái tại cơ sở; từ đó xác lập 3 mục tiêu nghiên cứu, phân tích ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở giải phẫu học cơ quan sinh dục lợn nái (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung sừng kép, âm đạo, tiền đình, âm môn); sinh lý chu kỳ động dục và các giai đoạn sinh trưởng của bào thai; nguyên nhân sinh bệnh học dẫn đến viêm tử cung (yếu tố nội tại do cơ địa đa thai, sót nhau; yếu tố ngoại cảnh do kỹ thuật phối giống, đỡ đẻ, dinh dưỡng thiếu hụt khoáng và vitamin). Đồng thời, tác giả rà soát các nghiên cứu trong nước (công trình của Nguyễn Văn Thanh, Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung) và nghiên cứu quốc tế (Xobko, Madec, Popkov) về tỷ lệ mắc bệnh, đặc tính các loài vi khuẩn cơ hội và các phác đồ trị liệu bằng kháng sinh kết hợp kích tố co bóp tử cung.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng khảo sát là đàn nái ngoại nuôi tại Trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn Chiêm trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2015. Tác giả mô tả tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng qua quan sát ngoài và khám gương soi mỏ vịt; xây dựng danh mục các chỉ tiêu theo dõi (tỷ lệ nhiễm theo lứa đẻ, kiểu chuồng, dãy chuồng, giống lợn, triệu chứng lâm sàng và chỉ tiêu sinh lý sinh sản sau điều trị); thiết lập sơ đồ bố trí thí nghiệm so sánh giữa hai phác đồ điều trị (Pendistrep-LA và Amoxinject) cùng phương pháp xử lý số liệu trên Microsoft Excel 2007.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Nội dung chương trình bày dữ liệu phục vụ sản xuất (tiêm phòng 5 loại vắc xin cho 520 con đạt tỷ lệ an toàn 100%; điều trị bệnh hô hấp, viêm vú, viêm khớp, ghẻ đạt tỷ lệ khỏi từ 70,00% đến 100%). Về chuyên đề chính, số liệu dịch tễ cho thấy tỷ lệ viêm tử cung qua các năm 2013, 2014, 2015 lần lượt là 24,70%, 18,80% và 21,84%. Tỷ lệ mắc bệnh phân hóa rõ rệt theo lứa đẻ (cao nhất ở lứa >6 với 27,97% và lứa 1 – 2 với 24,44%), theo kiểu chuồng (chuồng cũi 23,79% cao hơn chuồng ô 19,69%) và theo giống (Landrace 23,07% cao hơn Yorkshire 20,64%). Đánh giá lâm sàng cho thấy triệu chứng tăng tiết dịch mủ hôi xuất hiện ở 100% lợn bệnh. Kết quả thử nghiệm ghi nhận Phác đồ 1 cho tỷ lệ khỏi bệnh 96,72%, vượt trội hơn Phác đồ 2 (95,00%), đồng thời giúp cải thiện tỷ lệ động dục trở lại (96,61%) và tỷ lệ thụ thai lứa kế tiếp (79,66%).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khái quát 8 kết luận cơ bản rút ra từ kết quả thực địa: khẳng định quy mô đàn nái phát triển ổn định; biến động tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung qua 3 năm; mối liên hệ giữa tỷ lệ nhiễm với lứa đẻ, kiểu chuồng và giống lợn; tổng kết các triệu chứng lâm sàng điển hình và khẳng định hiệu quả điều trị cao của cả hai phác đồ, trong đó khuyến cáo ưu tiên áp dụng Phác đồ 1 trong thực tiễn sản xuất.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về tình hình dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại cơ sở chăn nuôi quy mô tập trung.

Năm theo dõi Số nái kiểm tra (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
2013 575 142 24,70
2014 418 79 18,80
2015 554 121 21,84

Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn qua 3 năm (2013 – 2015)

Dữ liệu năm 2015 trên 554 nái cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chăn nuôi:

  • Theo lứa đẻ: Lợn nái sinh sản đẻ lứa >6 có tỷ lệ nhiễm cao nhất (27,97%), kế tiếp là lứa 1 – 2 (24,44%), lứa 3 – 4 (21,48%) và thấp nhất ở lứa 5 – 6 (17,20%).
  • Theo kiểu chuồng: Lợn nuôi ở chuồng cũi có tỷ lệ mắc 23,79% (69/290 con), cao hơn đáng kể so với lợn nuôi ở kiểu chuồng ô với tỷ lệ 19,69% (52/264 con).
  • Theo điều kiện chiếu sáng: Dãy chuồng có ánh nắng ghi nhận tỷ lệ nhiễm 17,51% (62/354 con), trong khi dãy chuồng không có ánh nắng ghi nhận tỷ lệ 29,50% (59/200 con).
  • Theo giống lợn: Giống Landrace có tỷ lệ nhiễm 23,07% (63/273 con), cao hơn giống Yorkshire với tỷ lệ 20,64% (58/281 con).
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu Số lợn có triệu chứng (con) Tỷ lệ (%) (n = 121)
Thân nhiệt tăng (sốt) 41 33,88
Ngại vận động, giảm tiết sữa 87 71,90
Bộ phận sinh dục bên ngoài bị xung huyết, phù thũng 65 53,72
Tăng tiết dịch, dịch tiết có mùi hôi, màu trắng đục, đặc 121 100,00
Lợn cong lưng rặn, rên rỉ, niêm dịch hôi thối, màu vàng xanh, nâu đỏ 15 12,40

Một số triệu chứng lâm sàng của lợn nái bị viêm tử cung

Tiêu chí theo dõi Phác đồ 1 (Pendistrep-LA) Phác đồ 2 (Amoxinject)
Số lợn điều trị (con) 60 61
Số lợn khỏi bệnh (con) 59 57
Tỷ lệ khỏi bệnh (%) 96,72 95,00
Số nái động dục trở lại sau điều trị (con) 57 / 59 54 / 57
Tỷ lệ động dục trở lại (%) 96,61 94,74
Tỷ lệ phối giống đậu thai ngay lần 1 (%) 79,66 (47 con) 71,93 (41 con)
Tỷ lệ sảy thai, tiêu thai, đẻ thai gỗ (%) 3,39 (2 con) 5,26 (3 con)

So sánh hiệu quả điều trị và các chỉ tiêu sinh sản sau điều trị giữa 2 phác đồ

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất từ tác giả:

  • Đưa ra quy trình điều trị toàn diện kết hợp giữa kháng sinh toàn thân, thụt rửa sát trùng tử cung tại chỗ bằng Biocid-30, kích thích co bóp tống sản dịch bằng Oxytocin và trợ sức bằng Vitamin B1, B12, C.
  • Khẳng định tính ưu việt của phác đồ sử dụng Pendistrep-LA với tỷ lệ khỏi bệnh 96,72% và tỷ lệ đậu thai lứa sau đạt 79,66%, hạn chế rủi ro đẻ thai gỗ và sảy thai.
  • Đề xuất các biện pháp chăn nuôi phòng ngừa: kiểm soát thao tác đỡ đẻ tránh tổn thương niêm mạc; hạn chế cọ xát cơ học ở chuồng cũi; cải thiện tiểu khí hậu chuồng nuôi; vệ sinh sát trùng nghiêm ngặt dụng cụ thụ tinh nhân tạo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Đề tài chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy, phân lập định danh từng loài vi khuẩn gây viêm tử cung và thực hiện kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm; việc lựa chọn thuốc điều trị dựa trên căn cứ lý thuyết tổng quan và kinh nghiệm điều trị thực tế.
  • Chưa khảo sát các chỉ số hóa sinh máu và biến đổi vi thể của niêm mạc tử cung lợn nái trước và sau điều trị.
  • Phạm vi khảo nghiệm giới hạn tại một trang trại chăn nuôi công nghiệp trong thời gian 6 tháng.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ thực địa:

  • Cần mở rộng phân lập vi sinh vật gây bệnh tại chỗ nhằm xác định mức độ mẫn cảm và xu hướng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập từ đường sinh dục lợn nái.
  • Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc tự nhiên hoặc dung dịch rửa sinh học nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh tiêm trong điều trị bệnh sản khoa ở lợn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y, các kỹ sư chăn nuôi và kỹ thuật viên phụ trách kỹ thuật sinh sản tại các trang trại nuôi lợn:

  • Cung cấp số liệu dịch tễ chi tiết về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung phân chia theo lứa đẻ, kiểu chuồng nuôi và giống lợn ngoại, hỗ trợ công tác quản trị rủi ro đàn giống.
  • Cung cấp bảng mô tả triệu chứng lâm sàng phân cấp từ mức độ nhẹ đến nặng, giúp kỹ thuật viên nhận diện sớm bệnh tích sản dịch ngay tại chuồng đẻ.
  • Cung cấp quy trình thao tác trị liệu cụ thể (kỹ thuật thụt rửa tử cung, nồng độ dung dịch sát trùng, liều lượng kết hợp kháng sinh và kích tố) có thể ứng dụng trực tiếp tại các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản quy mô tập trung.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại Nguyễn Văn Chiêm năm 2015 là bao nhiêu và thay đổi như thế nào so với các năm trước?

Năm 2015, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái của trại là 21,84% (121 con mắc trên 554 con theo dõi). Tỷ lệ này thấp hơn so với năm 2013 (24,70% với 142/575 con mắc) và cao hơn so với năm 2014 (18,80% với 79/418 con mắc—năm đàn nái bị sụt giảm số lượng do dịch bệnh).

Nhóm lợn nái ở lứa đẻ nào có nguy cơ mắc bệnh viêm tử cung cao nhất?

Lợn nái đẻ lứa >6 có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất với 27,97% (38/143 con), tiếp đến là nhóm nái đẻ lứa 1 – 2 với 24,44% (22/90 con). Nguyên nhân là nái già trên 6 lứa có thể trạng suy giảm, sức rặn đẻ yếu và dễ bị sát nhau; trong khi nái đẻ lứa 1 – 2 có đường sinh dục chưa hoàn thiện, tử cung hẹp, dễ tổn thương cơ học khi can thiệp đỡ đẻ.

Triệu chứng lâm sàng nào xuất hiện ở tất cả các lợn nái mắc bệnh viêm tử cung trong khảo sát?

Triệu chứng tăng tiết dịch từ đường sinh dục, dịch có mùi hôi và màu trắng đục đặc xuất hiện ở 100% lợn nái mắc bệnh (121/121 con). Các triệu chứng khác có tỷ lệ thấp hơn như: ngại vận động và giảm tiết sữa (71,90%), bộ phận sinh dục ngoài phù thũng xung huyết (53,72%), sốt (33,88%) và cong lưng rặn kèm dịch màu nâu đỏ/vàng xanh (12,40%).

Sự khác nhau về thành phần thuốc và hiệu quả điều trị giữa Phác đồ 1 và Phác đồ 2 là gì?

Phác đồ 1 sử dụng kháng sinh phổ rộng Pendistrep-LA (phối hợp Dihydrostreptomycin sulphate, Benzathine benzylpenicillin và Procaine benzylpenicillin) cho tỷ lệ khỏi bệnh đạt 96,72% (59/60 con). Phác đồ 2 sử dụng kháng sinh Amoxinject (hoạt chất Amoxycillin) cho tỷ lệ khỏi bệnh đạt 95,00% (57/61 con). Cả hai phác đồ đều kết hợp tiêm Oxytocin, thuốc bổ trợ Vitamin B1, B12, C và thụt rửa tử cung bằng dung dịch Biocid-30.

Kiểu chuồng nuôi ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái?

Lợn nái nuôi ở kiểu chuồng cũi có tỷ lệ mắc bệnh là 23,79% (69/290 con), cao hơn rõ rệt so với lợn nuôi ở kiểu chuồng ô là 19,69% (52/264 con). Sự chênh lệch này xuất phát từ việc lợn nuôi trong chuồng cũi chật hẹp, khi vận động vùng âm môn dễ cọ xát trực tiếp vào khung sắt của cửa chuồng gây trầy xước, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn sinh mủ xâm nhập gây nhiễm trùng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thanh Hường đã phản ánh thực trạng dịch tễ bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại Trại lợn nái Nguyễn Văn Chiêm với tỷ lệ cảm nhiễm trung bình 21,84% năm 2015, đồng thời làm rõ sự biến động tỷ lệ bệnh theo lứa đẻ, giống lợn và quy cách chuồng nuôi. Công trình đã thử nghiệm thành công hai phác đồ điều trị kết hợp giữa kháng sinh toàn thân, thụt rửa tử cung và kích tố Oxytocin, trong đó phác đồ phối hợp Penicillin – Streptomycin (Pendistrep-LA) đạt hiệu quả khỏi bệnh 96,72% cùng khả năng phục hồi sinh sản cao. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn đáng tin cậy để nâng cao kỹ thuật chăm sóc, phòng ngừa và điều trị các bệnh lý sản khoa trong chăn nuôi lợn công nghiệp.