Chương 1. Tổng quan về Tin Lành Hàn Quốc và Việt Nam 1. Tin Lành Hàn Quốc 1. Lịch sử, quá trình phát triển Hàn Quốc hiện nay là một quốc gia nằm ở phần phía nam của Bán đảo Triều Tiên.
Vĩ tuyến 38 độ bắc, chính là ranh giới phân chia bán đảo thành hai miền Nam- Bắc kể từ năm 1948 đến nay. Bán đảo Triều Tiên nằm ở phía Đông Bắc của lục địa châu Á có biên giới đất liền kề với vùng viễn đông Nga, Trung Quốc và biên giới với biển của Nhật Bản ở phía Đông. Vào khoảng thế kỷ XI, biên giới của Bán đảo còn kéo dài bao gồm cả một phần của Mãn Châu xưa kia. Đến thế kỷ XV, do các cuộc xung đột liên tiếp của Trung Quốc và Bán đảo chuyển dịch dần về phía Nam như hiện nay.
Với địa thế như vậy nên từ xa xưa đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân trên bán đảo này đã chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa của khu vực và các quốc gia xung quanh nhất là từ Xiberia và Trung Quốc. Xét về nguồn gốc lịch sử, tôn giáo ở Hàn Quốc được hình thành từ hai yêu tố quan trọng chủ yếu là những tín ngưỡng, tôn giáo nguyên thủy được hình thành ngay trên Bán đảo, hay còn gọi là những tín ngưỡng bản địa và những tín ngưỡng, tôn giáo được du nhập từ bên ngoài vào. Cũng giống như nhiều nước ở châu Á khác, Hàn Quốc có những chính sách bế quan tỏa cảng trong nhiều thế kỷ ở thời phong kiến và người ta thường gọi đây là “Vương quốc ẩn sĩ” “ Đất nước của buổi sớm mai yên lành” …bởi cho đến nửa đầu thế kỉ 19, đất nước này vẫn kiên quyết từ chối quan hệ hay giao tiếp với các quốc gia bên ngoài. Tuy nhiên, họ bắt buộc phải mở cửa hướng ra thế giới trước nhiều sức ép của phương Tây và kết quả là đạo Tin Lành đã du nhập vào Hàn Quốc vào cuối thế kỉ 19.
Trong suốt hơn 500 năm Vương triều Joseon (1392-1910), triết lý Khổng giáo là nền tảng tư tưởng, văn hoá, chính trị chính thống ở xã hội Hàn Quốc. Cho đến cuối triều đại, giá trị này mới mất dần vai trò chủ đạo, những người theo Phật giáo và Khổng giáo đã cố gắng mang lại một trật tự xã hội mới cho Vương triều Joseon nhưng họ vẫn không thành công. Cùng lúc đó, đạo Tin Lành đã du 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhập vào Hàn Quốc, mang đến một thông điệp cũng như triết lý mới tới những người đang tìm kiếm một xã hội, một kỷ nguyên đổi mới. Giai đoạn khởi đầu: Trước năm 1905 Năm 1832 nhà truyền giáo Karl F.Gutzlaff (1803-1851) là người Tin Lành đầu tiên đến Hàn Quốc trên chuyến tàu buôn của Anh từ Lord Amherst để truyền giáo kết hợp với kinh doanh nhưng không đạt kết quả.
Tháng 9 năm 1866, Giám mục Anh giáo Robert Jermain Thomas (1840-1866), người truyền giáo Anh quốc hoạt động nhiều năm tại Trung Quốc đã sang đây truyền giáo khi chính quyền không cho phép đến khi gần chết ông đã kịp truyền đạo cho một người Hàn Quốc. Năm 1874, Mục sư John Ross (1842-1915) và Mục sư John Macintyre (1837-1905) là những người truyền giáo được Giáo hội Trưởng lão Xcot-len cử tới Mãn Châu (Trung Quốc) nơi gần nhất với biên giới Hàn Quốc để truyền giáo. Tại đây ông đã thuê những người Hàn Quốc trẻ tuổi làm người dạy tiếng Hàn và dịch Kinh thánh với sự trợ giúp của ông, trong quá trình làm việc, họ đã quyết định theo đạo Tin Lành và được mục sư MacIntyre làm lễ Bắptem vào năm 1876. Họ là những tín đồ Tin Lành đầu tiên của Hàn Quốc.
Sau đó, họ được bổ nhiệm làm người quảng bá Thánh kinh, và trở về nhà với nhiều bản dịch Kinh thánh, họ là những người thuyết giáo sách Phúc âm và xây dựng tổ chức Tin Lành Hàn Quốc đầu tiên. Tuy Tin Lành Hàn Quốc chính thức phát triển từ giữa thế kỷ 19 nhưng về cơ bản hoạt động truyền bá Tin Lành bắt đầu từ những năm Hàn Quốc mở cửa giao lưu văn hóa (tức là năm 1876), đặc biệt là từ sau khi ký hiệp ước Jo- Mỹ năm 1882, với hiệp ước này, những người phương Tây có thể đến buôn bán và cư trú hợp pháp tại Hàn Quốc. Từ đây người dân Hàn cũng bắt đầu giao tiếp với người nước ngoài và những người truyền giáo được phép tới Hàn Quốc. Tuy nhiên vào thời kỳ này những người truyền giáo Phương Tây đến Hàn Quốc thực hiện sứ mệnh lịch sử truyền giáo đã không được tự do làm công việc của mình, trái lại họ gặp rất nhiều khó khăn.
Đó là sự cấm đoán, kỳ thị của chính quyền đương thời vì tôn giáo nước ngoài này có sự xung đột với giá trị văn hóa của dân 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tộc nhất là với Nho giáo thời kỳ đó. Mặt khác, lúc đó Kitô giáo nói chung và Tin Lành nói riêng đang gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ từ các quốc gia phương Đông, bởi từ khi tôn giáo phương Tây này được truyền bá trên khắp thế giới cùng với làn sóng tấn công của chủ nghĩa bành trướng phương Tây. Các nhà truyền giáo bị xem như là tác nhân tự nhiên trong sự bành trướng của thế lực phương Tây. Cũng vào thời điểm này vương triều Joseon đang bị bao vây với sự xung đột về trí thức và chính trị giữa phái bảo thủ phong kiến và lực lượng tiến bộ, phe bảo thủ không mong muốn những trí thức tiến bộ đi theo tôn giáo nước ngoài.
Tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ của lực lượng tiến bộ trong triều đình như Kim Ok-Kyun, Park Yong -Ho.các nhà truyền giáo Mỹ cũng đã được diện kiến vua Kojong để trình bày ý tưởng muốn thiết lập các cơ sở đào tạo và y tế ở Hàn Quốc. Nhờ có mối quan hệ thân tình, Allen và các nhà truyền giáo Mỹ (chủ yếu là của Hội Giám lý và hội Phúc âm) đã có thể thành lập các trường học và bệnh viện. Các tổ chức này đã trở thành những địa điểm đầu tiên để các giáo sĩ có thể liên lạc với người dân Hàn Quốc và có tác động làm thay đổi thái độ chống phương Tây, chống tôn giáo. Nhờ cung cấp cho Hàn Quốc các phương pháp điều trị y học và giáo dục hiện đại, các giáo sĩ đầu tiên đến Hàn Quốc đã tạo được một ảnh hưởng tốt đẹp với người dân và đã thu hút một số người trong chuyển đổi sang đạo Tin Lành.
Trong giai đoạn đầu này, thông qua việc truyền giáo gián tiếp bằng giáo dục và y tế, Tin Lành không chỉ dừng lại ở việc du nhập vào Hàn Quốc những giá trị và ý niệm mới như tự do, bình đẳng, công bằng và dân chủ, mà còn thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Giai đoạn cải cách, tổ chức Giáo hội và sự kháng cự của Hàn Quốc dưới thời Nhật Trị (1905~1945). Chiến tranh Trung- Nhật (1894-1895), sau đó là chiến tranh Nga- Nhật (1904-1905), với chiến thắng thuộc về Nhật Bản, đã làm thái độ chống Nhật ngày càng gia tăng và làm suy yếu đi thái độ chống phương Tây của người dân Hàn Quốc. Nhật Bản, một quốc gia láng giềng không đáng tin, là đế quốc chủ yếu nổi bật lên ở Hàn Quốc, khiến cho nhiều người dân Hàn Quốc không những thay đổi 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thái độ thù địch với phương Tây mà còn háo hức với sự thiết lập quan hệ thân thiết với họ, mong muốn tìm kiếm sự giúp đỡ.
Chẳng hạn, một số nhà cải cách ưu tú như Yun Chi-Ho, So Chaep-Il , những người đã từng khâm phục và có mối quan hệ thân thiết với Nhật Bản đã thay đổi thái độ từ sau cuộc đảo chính năm 1884, trở thành các phần tử chống Nhật, là các nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Chongdongpia- một tổ chức chính trị thân phương Tây, thực hiện các cải cách học tập theo phương Tây. Còn vua Kojong đã đến tìm kiếm sự giúp đỡ của nước Mỹ, vì ông tin tưởng rằng quốc gia này ở này ở xa Bán đảo nên không có âm mưu xâm chiếm nơi đây thành thuộc địa và sẽ giúp đỡ những người dân Hàn Quốc tuyệt vọng đứng lên chống lại đế quốc Nhật. Thái độ chống Nhật chi phối trong Hàn Quốc đến mức mà nhiều người dân Hàn Quốc đã phản đối tất cả các cải cách tiến bộ nếu do người Nhật đề xuất. Trước và sau năm 1905, các giáo sĩ Mỹ đồng cảm với người dân Hàn Quốc không có người giúp đỡ và đã cùng lên án hành động xâm lấn của Nhật Bản, mặc cho chính phủ Mỹ khuyến khích họ giữ thái độ chính trị trung lập.
Một số nhà truyền giáo đã tự mình đứng về phía người dân Hàn Quốc. Dưới thời Nhật trị phong trào phục hồi đức tin của Tin Lành được khởi xướng và phát triển mạnh mẽ. Đây là những thông điệp được truyền đạt của Tin Lành Cơ đốc giáo trong những buổi phục hồi đức tin. Họ thuyết phục rằng nếu đa số người dân Hàn Quốc nắm lấy đạo Tin Lành với niềm tin vững chắc, những “Satan” Nhật Bản sẽ phải rút lui.
Cộng đồng tôn giáo này không chỉ phát triển nhanh chóng mà còn gắn kết chặt chẽ hơn và trở thành những lực lượng chiến đấu sau phong trào phục hồi đức tin. Các nhà thờ Tin Lành đã khoả lấp nhu cầu về tâm lý và chính trị trong một cộng đồng, nơi người dân Hàn Quốc có thể chia sẻ với nhau về nỗi bất hạnh, tác động của cuộc khủng hoảng, tình đoàn kết và thảo luận về tương lai đất nước của họ. Vì chính quyền bảo hộ ra lệnh ngăn cấm họ tham gia vào bất cứ tổ chức chính trị xã hội nào, nên những người dân thuộc địa Hàn Quốc đã đi tìm kiếm nhu cầu tâm lý và chính trị trong một cộng đồng của riêng. Họ đã chọn lựa Phật giáo, Nho giáo, Chondogyo (một tín ngưỡng dân gian) và Cơ đốc giáo.
Một số người đứng đầu Chondogyo bị mất uy tín vì bị lôi kéo vào các phong trào ủng hộ Nhật. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhiều người dân Hàn Quốc yêu nước đã bị mất niềm tin vào các tôn giáo truyền thống như Phật giáo và Nho giáo. Lúc này, dường như Cơ đốc giáo trở thành lựa chọn duy nhất của họ. Kết quả nổi bật của công cuộc cải cách là phong trào đổi mới xã hội, phong trào yêu nước chống Nhật Bản của những người theo đạo Tin Lành và toàn thể nhân dân Hàn Quốc.
Tình yêu nước được những nhà lãnh đạo Tin Lành truyền cảm hứng đã lớn mạnh trong cộng đồng.