Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng và tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2: Thực trạng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Bến Tre giai đoạn 2017 – 2019. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Bến Tre. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm ngân hàng thương mại Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội Nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010, tại Điều 4 có nêu: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Chức năng của ngân hàng thương mại Hình 1. Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian thanh toán Hoạt động huy Hoạt động sử - Dịch vụ thanh toán và ngân động vốn dụng vốn quỹ - Kinh doanh ngoại tệ - Ủy thác, đại lý - Vốn chủ sở hữu - Hoạt động tín dụng - Kinh doanh chứng khoán.
- Tiền gửi tiết kiệm - Hoạt động đầu tƣ - Tiền gửi giao dịch - Phát hành chứng khoán - Vay các NH khác - Hoạt động khác Nguồn: Tổng hợp của tác giả Chức năng trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của một NHTM, chức năng này không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM. Trong chức năng này - NHTM đóng vai trò là ngƣời trung gian đứng ra tập trung, huy động nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng) đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tƣ cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng xã hội. 6 Chức năng trung gian thanh toán và cung ứng phƣơng tiện thanh toán là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của NHTM mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động của NHTM. NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa ngƣời mua, ngƣời bán.
để hoàn tất các quan hệ kinh tế thƣơng mại giữa họ với nhau. Chức năng cung ứng dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ƣu thế của nó mới có thể thực hiện đƣợc một cách trọn vẹn và đầy đủ. Các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những cho phép NHTM thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng mà còn hỗ trợ tích cực để NHTM thực hiện tốt hơn chức năng thứ nhất và thứ hai của NHTM. Các hoạt động của ngân hàng thương mại Hình 1.
Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của ngân hàng thƣơng mại Các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM Nghiệp vụ huy Nghiệp vụ sử Nghiệp vụ trung gian, động vốn dụng vốn dịch vụ ngân hàng Nguồn vốn phát sinh Cho vay Dịch vụ trung gian Nguồn vốn quản lý Chiết khấu Dịch vụ kinh doanh và huy động Đầu tƣ, liên doanh vàng bạc, ngoại tệ Nguồn vốn đi vay Dịch vụ nhận ủy thác Trả tiền gửi, tiền vay, chi Thu lãi tiền vay, tiền Thu hoa hồng từ các dịch phí hoạt động kinh doanh đầu tƣ, liên doanh vụ trung ian Lợi nhuận Tổng chi phí Nghiệp vụ trung gian, dịch vụ ngân hàng trƣớc thuế Thuế thu nhập Lợi nhuận ròng Các quỹ ngân hàng Nguồn: Nguyễn Đăng Dờn, 2016 7 1. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động kinh doanh cơ bản và thƣờng xuyên của các NHTM vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho NHTM. NHTM đƣợc huy động vốn dƣới những hình thức: Nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn,tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận để huy động vốn trong nƣớc và nƣớc ngoài theo quy định của NHNN Việt Nam và quy định của pháp luật. Hoạt động cấp tín dụng Hoạt động tín dụng cũng là một hoạt động cơ bản của NHTM, đồng thời đây chính là hoạt động cung cấp một khối lƣợng vốn khổng lồ cho nền kinh tế.
NHTM đƣợc phép cấp tín dụng dƣới những hình thức sau đây: - Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. - Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác: Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lƣu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán. - Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. - Bao thanh toán trong nƣớc; bao thanh toán quốc tế: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lƣu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Dịch vụ cung ứng các phƣơng tiện thanh toán; - Dịch vụ thanh toán trong nƣớc bao gồm; séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, 8 ủy nhiệm thu, thƣ tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; - Dịch vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc; - Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ các các tổ chức và cá nhân; - Phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử; - Các sản phẩm khác nhƣ tƣ vấn tài chính, giữ hộ tài sản, thanh toán séc. Các hoạt động khác Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; Mở tài khoản thanh toán tại TCTD khác; Mở tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán ở nƣớc ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối. Các hoạt động khác của NHTM: Dịch vụ quản lý tiền mặt, tƣ vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; Tƣ vấn tài chính doanh nghiệp, tƣ vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tƣ vấn đầu tƣ; Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Cung cấp dịch vụ môi giới tiền tệ; Lƣu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng theo văn bản chấp thuận của NHNN và các quy định của pháp luật. Lý luận về tín dụng ngân hàng 1.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, là hình thức vận động của vốn cho vay. Nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng đối với nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, là sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng một lƣợng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện, cam kết mà hai bên đã thoả thuận, trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi [5]. Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu. Nhƣ vậy tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng đƣợc biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng bằng tiền giữa một bên là Ngân hàng - một tổ chức hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - với một bên là các tổ chức, 9 cá nhân trongxã hội, mà trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. Với tƣ cách là ngƣời đi vay, ngân hàng (NH) huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng các hình thức: Nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, thẻ tiết kiệm. để huy động vốn trong xã hội. Với tƣ cách là ngƣời cho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu vốn cần đƣợc bổ sung cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển đời sống và tiêu dùng.
Quá trình tạo vốn và sử dụng vốn của tín dụng ngân hàng tức là quá trình đi vay để cho vay, luôn cóv quan hệ chặt chẽ với nhau. Bản chất của tín dụng ngân hàng Bản chất của tín dụng biểu hiện ở quá trình hoạt động của tín dụng trong nền kinh tế thị trường thể hiện thông qua các giai đoạn [5]. Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng dƣới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tƣ hàng hóa đƣợc chuyển từ ngƣời cho vay sang đi vay.
Đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hóa (giao ngay) thông thƣờng. Trong quan hệ mua bán hàng hóa thì giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại. Ngƣời bán nhƣợng đi giá trị hàng hóa, nhƣng lại nhận lại giá trị tiền tệ. Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất.
Sau khi nhận đƣợc giá trị vốn tín dụng, ngƣời đi vay đƣợc quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn một mục đích nhất định.