Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam, chiếm tới hơn 98% trong tổng số 758.610 doanh nghiệp đang hoạt động tính đến ngày 31/12/2019. Khối doanh nghiệp này đóng góp khoảng 45% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chiếm 31% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động. Dù sở hữu tiềm năng to lớn và tính linh hoạt cao, các DNNVV luôn phải đối mặt với rào cản tài chính nghiêm trọng. Theo khảo sát 996 doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới năm 2015, có tới 22% doanh nghiệp Việt Nam xác định tiếp cận tài chính là trở ngại lớn nhất trong việc duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, cao gấp 2 lần so với mức trung bình của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương.

Luận văn thạc sĩ ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Lý Anh Tú (Trường Đại học Ngoại thương, hướng dẫn khoa học bởi TS Nguyễn Thu Hằng) được thực hiện nhằm giải quyết trực diện điểm nghẽn nguồn vốn của cộng đồng doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích thực trạng tiếp cận vốn của DNNVV tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019, xác định và lượng hóa các nhân tố chủ quan cùng khách quan chi phối dòng vốn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn qua hai kênh chính là tín dụng ngân hàng và quỹ đầu tư mạo hiểm.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP trên toàn quốc. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc hỗ trợ cải thiện chỉ số đòn bẩy tài chính cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, vốn đang ghi nhận chỉ số nợ khiêm tốn ở mức 0,8 lần so với mức 2,7 lần của nhóm doanh nghiệp quy mô lớn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry Theory) của Akerlof cùng mô hình định lượng rủi ro tín dụng của Stiglitz và Weiss để giải thích hiện tượng các ngân hàng thương mại thắt chặt điều kiện cấp vốn đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp Lý thuyết Trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) của Myers và Majluf, lý giải xu hướng các DNNVV thường tận dụng lợi nhuận giữ lại trước khi tìm kiếm dòng vốn nợ từ ngân hàng và vốn cổ phần từ quỹ đầu tư mạo hiểm.

Khung phân tích của đề tài chuẩn hóa 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  • Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Xác định theo tiêu chí định tính và định lượng quy định tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP và hướng dẫn của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), phân loại thành doanh nghiệp siêu nhỏ (dưới 10 lao động, vốn không quá 3 tỷ đồng), doanh nghiệp nhỏ (dưới 100 lao động, vốn không quá 20 - 50 tỷ đồng) và doanh nghiệp vừa (dưới 200 lao động, vốn không quá 100 tỷ đồng).
  • Nguồn vốn tài trợ: Bao gồm vốn chủ sở hữu dài hạn không cam kết hoàn trả và nợ phải trả đi kèm nghĩa vụ lãi suất cùng tài sản thế chấp.
  • Tín dụng ngân hàng: Kênh dẫn vốn chính thức gồm tín dụng ngắn hạn bổ sung vốn lưu động và tín dụng trung - dài hạn tài trợ cho máy móc, công nghệ.
  • Quỹ đầu tư mạo hiểm: Định chế tài chính chuyên nghiệp cung cấp vốn và năng lực quản trị cho các mô hình kinh doanh có tính đột phá, phân loại theo hình thức nội địa, hải ngoại, hợp đồng tín thác hoặc công ty cổ phần theo hướng dẫn của OECD.
  • Tài sản đảm bảo: Biện pháp phòng ngừa rủi ro theo Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015, yêu cầu tài sản phải có tính pháp lý sở hữu và giá trị thanh lý tương đương hoặc lớn hơn giá trị khoản vay.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp quy mô lớn với phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh và tổng hợp chỉ số tài chính. Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các bộ dữ liệu điều tra uy tín gồm: khảo sát 996 doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới (2015), điều tra 2.600 DNNVV ngành công nghiệp chế biến - chế tạo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), UNU-WIDER và Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA, 2016). Đồng thời, tác giả khai thác số liệu vĩ mô toàn diện từ Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh, Tổng cục Thống kê và Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam các năm 2017 và 2020.

Cỡ mẫu phân tích bao quát toàn bộ 758.610 doanh nghiệp đang hoạt động đến cuối năm 2019. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo 3 khu vực kinh tế (Nông nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng; Thương mại - Dịch vụ) và 4 nhóm quy mô (Siêu nhỏ, Nhỏ, Vừa, Lớn) được áp dụng nhằm loại bỏ sai số thống kê. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh chuỗi thời gian giai đoạn 2015 - 2019 cùng hệ thống chỉ số tài chính (ROA, ROE, ROS, vòng quay vốn, chỉ số nợ) là nhằm phản ánh khách quan mối tương quan giữa quy mô vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh, làm nổi bật bản chất của rào cản tiếp cận nguồn vốn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ thành lập doanh nghiệp và quy mô vốn đăng ký mới tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2015 - 2019 nhờ tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014. Năm 2019 ghi nhận kỷ lục 138.139 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt 1,73 triệu tỷ đồng, tăng 17,1% về vốn so với năm 2018 và gấp 2,87 lần so với mức 601,5 nghìn tỷ đồng của năm 2015. Bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2016 - 2019 có 126.593 doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp đạt 49,3% và vốn đăng ký tăng 24,8%/năm. Thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp rút ngắn từ nhiều tuần xuống còn trung bình 2,9 ngày vào năm 2016 với tỷ lệ chấp thuận hồ sơ lần đầu đạt gần 86%.

Thứ hai, cơ cấu doanh thu và mức độ tiếp cận đòn bẩy tài chính có sự phân hóa sâu sắc theo quy mô. Trong tổng doanh thu 23,64 triệu tỷ đồng của toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2018, các doanh nghiệp lớn chiếm tới 72,8% (đạt 17,2 triệu tỷ đồng), trong khi doanh nghiệp nhỏ chỉ chiếm 14,9% (3,53 triệu tỷ đồng), doanh nghiệp vừa chiếm 9,7% (2,3 triệu tỷ đồng) và doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ đóng góp 2,6% (614,78 nghìn tỷ đồng). Chỉ số nợ bình quân năm 2018 đạt 2,1 lần nhưng doanh nghiệp lớn dẫn đầu với 2,7 lần, doanh nghiệp vừa đạt 2,2 lần, doanh nghiệp nhỏ đạt 1,5 lần và doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ đạt 0,8 lần, phản ánh việc các doanh nghiệp nhỏ không thể tối ưu hóa nguồn vốn nợ bên ngoài.

Thứ ba, hiệu quả sinh lời tỷ lệ thuận với quy mô vốn và bộc lộ sự suy giảm nghiêm trọng ở nhóm quy mô siêu nhỏ. Năm 2018, hiệu suất sinh lợi trên tài sản (ROA) của doanh nghiệp lớn đạt 3,6%, doanh nghiệp vừa đạt 1,1%, trong khi doanh nghiệp nhỏ âm 0,3% và doanh nghiệp siêu nhỏ âm 1,1%. Hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) của doanh nghiệp lớn đạt 13,1%, doanh nghiệp vừa đạt 3,4%, doanh nghiệp nhỏ âm 0,8% và doanh nghiệp siêu nhỏ rơi xuống mức âm 2,0%. Về hiệu suất sử dụng lao động, doanh nghiệp vừa đạt cao nhất với 17,5 lần, doanh nghiệp lớn đạt 16,6 lần, doanh nghiệp nhỏ đạt 13,6 lần và doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ đạt 5,2 lần.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu có thể được hệ thống hóa rõ ràng qua bảng so sánh các chỉ tiêu tài chính và biểu đồ phân tích biến động ROA/ROE theo quy mô doanh nghiệp. Dữ liệu từ biểu đồ chuỗi thời gian cho thấy biên độ dao động ROA của doanh nghiệp siêu nhỏ giai đoạn 2007 - 2015 lên tới 4,8%, giảm từ 7,7% năm 2012 xuống mức đáy 2,9% năm 2015 và tiếp tục rơi vào trạng thái âm năm 2018. Điều này chứng minh các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chịu tổn thương nặng nề nhất trước biến động kinh tế vĩ mô do thiếu nguồn vốn đệm dự phòng.

Nguyên nhân của tình trạng khó tiếp cận vốn xuất phát từ cả hai phía chủ quan và khách quan:

  • Về phía chủ quan của DNNVV: Sự thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính là rào cản hàng đầu. Phần lớn doanh nghiệp chưa qua kiểm toán độc lập, hệ thống ghi chép nội bộ thiếu chuẩn mực, dẫn đến hiện tượng bất cân xứng thông tin với ngân hàng. Thêm vào đó, năng lực quản trị của chủ doanh nghiệp còn mang tính kinh nghiệm vụn vặt, khả năng lập kế hoạch kinh doanh chi tiết kém và đặc biệt là thiếu tài sản đảm bảo hợp pháp để đáp ứng tỷ lệ thế chấp bắt buộc.
  • Về phía khách quan: Điều kiện vay vốn tín dụng ngân hàng còn quá chặt chẽ, lãi suất vay thương mại chưa thực sự ưu đãi cho sản xuất dài hạn. Kênh quỹ đầu tư mạo hiểm tuy có bước phát triển nhưng quy mô vốn giải ngân còn khiêm tốn, định hướng rót vốn chỉ tập trung vào nhóm công nghệ đột phá và hành lang pháp lý quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa vẫn còn nhiều khoảng trống. Những phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu thực nghiệm của Beck và Demirguc-Kunt (2006) cũng như Wang (2016) trên phạm vi quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông dòng vốn cho các DNNVV, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuẩn hóa quản trị nội bộ và nâng cao tính minh bạch tài chính: Các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chủ động chuyển đổi số quy trình kế toán, tách bạch tài chính cá nhân và doanh nghiệp, thực hiện kiểm toán định kỳ. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ có báo cáo tài chính chuẩn hóa đạt trên 80% trong giai đoạn 2021 - 2023. Doanh nghiệp cần phối hợp với Cục Phát triển Doanh nghiệp để bồi dưỡng kỹ năng lập phương án sản xuất kinh doanh khả thi.

  2. Cải cách điều kiện cho vay và linh hoạt hóa sản phẩm tín dụng ngân hàng: Ngân hàng Nhà nước cần chỉ đạo các ngân hàng thương mại phát triển các gói tín dụng dựa trên thẩm định dòng tiền và uy tín thương mại thay vì phụ thuộc 100% vào tài sản thế chấp bất động sản. Các tổ chức tín dụng cần số hóa quy trình thẩm định để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ xuống dưới 3 đến 5 ngày làm việc, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNNVV đạt từ 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2021 - 2025.

  3. Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi cho quỹ đầu tư mạo hiểm: Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết Nghị định số 38/2018/NĐ-CP, thiết lập cơ chế ưu đãi giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu cho các quỹ đầu tư mạo hiểm rót vốn vào DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, nhằm mục tiêu thu hút tổng vốn đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam vượt mốc 1 tỷ USD trong vòng 5 năm tới.

  4. Tái cấu trúc và mở rộng Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV: Cơ quan quản lý nhà nước tại các địa phương cần nâng mức vốn điều lệ cho Quỹ Bảo lãnh tín dụng, đơn giản hóa thủ tục nhận bảo lãnh, đặt chỉ tiêu bảo lãnh thành công tối thiểu 30% các hồ sơ dự án khả thi nhưng thiếu tài sản đảm bảo trong giai đoạn 2021 - 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà sáng lập khởi nghiệp: Nắm vững các tiêu chuẩn thẩm định tín dụng của ngân hàng thương mại và khẩu vị của quỹ đầu tư mạo hiểm, từ đó chủ động tái cấu trúc hệ thống tài chính, lập phương án kinh doanh bài bản để nâng chỉ số đòn bẩy nợ từ mức 0,8 lần lên mức tối ưu 1,5 - 2,0 lần.

  2. Chuyên viên phân tích tín dụng và cán bộ quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại: Khai thác bộ chỉ số tài chính thực chứng (ROA, ROE, vòng quay vốn) theo từng phân khúc ngành nghề để hoàn thiện mô hình chấm điểm tín dụng nội bộ, thiết kế các sản phẩm tín dụng tín chấp phù hợp cho nhóm khách hàng chiếm hơn 98% thị trường.

  3. Nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước: Tham khảo các luận cứ khoa học và dữ liệu giai đoạn 2015 - 2019 để rà soát hiệu quả thi hành Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, bổ sung các chính sách lãi suất trần và hoàn thiện hành lang pháp trị cho thị trường vốn mạo hiểm.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng công trình như một tài liệu học thuật tham khảo chuyên sâu, kế thừa mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng và phương pháp đánh giá thực trạng tài trợ vốn doanh nghiệp tại các nền kinh tế mới nổi.

Câu hỏi thường gặp

  1. Rào cản lớn nhất của DNNVV tại Việt Nam khi tiếp cận vốn ngân hàng là gì? Rào cản lớn nhất là thiếu tài sản đảm bảo đạt chuẩn pháp lý và tính thanh khoản, kết hợp với việc thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính. Khảo sát của Ngân hàng Thế giới cho thấy 22% doanh nghiệp xác nhận khó khăn tài chính là rào cản hàng đầu, khiến chỉ số nợ của nhóm siêu nhỏ chỉ đạt 0,8 lần.

  2. Tiêu chí phân loại DNNVV tại Việt Nam theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP gồm những gì? Nghị định 39/2018/NĐ-CP phân loại dựa trên 3 tiêu chí định lượng chính: số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm (dưới 10, 100 hoặc 200 người), tổng nguồn vốn (không quá 3 tỷ, 20 - 50 tỷ hoặc 100 tỷ đồng) hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề (không quá 3 tỷ, 50 - 100 tỷ hoặc 200 - 300 tỷ đồng tùy lĩnh vực).

  3. Tại sao tỷ suất sinh lời ROA và ROE của doanh nghiệp siêu nhỏ năm 2018 lại ghi nhận mức âm? Năm 2018, ROA của doanh nghiệp siêu nhỏ là âm 1,1% và ROE là âm 2,0% do quy mô vốn hạn chế, chi phí cố định cao và hiệu suất sử dụng lao động thấp chỉ đạt 5,2 lần. Nhóm doanh nghiệp này không tiếp cận được nguồn vốn vay chi phí thấp để mở rộng quy mô.

  4. Quỹ đầu tư mạo hiểm có thể thay thế hoàn toàn nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho DNNVV không? Không thể thay thế hoàn toàn. Quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ tập trung vào các dự án có tính đột phá sáng tạo và khả năng mở rộng quy mô nhanh. Tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn huyết mạch phục vụ hơn 90% nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp sản xuất và thương mại truyền thống.

  5. Doanh nghiệp cần làm gì để cải thiện khả năng vay vốn không cần tài sản thế chấp? Doanh nghiệp cần chuẩn hóa hệ thống báo cáo tài chính, áp dụng phần mềm kế toán số, duy trì dòng tiền kinh doanh dương có sao kê ngân hàng rõ ràng, xây dựng kế hoạch kinh doanh minh bạch và duy trì lịch sử tín dụng chuẩn mực tại Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).

Kết luận

  • DNNVV chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp và đóng góp 45% GDP nhưng đang chịu sự thiệt thòi lớn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tài trợ chính thức.
  • Bất cân xứng thông tin, thiếu tài sản đảm bảo và báo cáo tài chính chưa chuẩn mực là các rào cản nội tại chính khiến chỉ số nợ của khối doanh nghiệp siêu nhỏ dừng lại ở mức 0,8 lần.
  • Hiệu quả sinh lời tỷ lệ thuận với quy mô vốn, biểu hiện qua việc ROE của nhóm doanh nghiệp lớn đạt 13,1% trong khi nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ rơi vào mức âm 2,0% trong năm 2018.
  • Tín dụng ngân hàng và quỹ đầu tư mạo hiểm là hai trụ cột bổ trợ lẫn nhau cần được khơi thông đồng bộ thông qua cải cách thể chế và đa dạng hóa sản phẩm tài chính.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp liên kết chặt chẽ giữa Doanh nghiệp - Tổ chức tín dụng - Chính phủ là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng DNNVV 15 - 20%/năm giai đoạn 2021 - 2025.

Đóng góp nổi bật của luận văn là đã lượng hóa toàn diện thực trạng tiếp cận vốn giai đoạn 2015 - 2019 và đề xuất lộ trình hành động thiết thực cho nền kinh tế. Các nhà quản trị doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng hãy chủ động triển khai ngay các giải pháp chuẩn hóa thông tin và kết nối dòng vốn nhằm tạo đà bứt phá bền vững.