CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình quản lý và sử dụng phân người: Phân người cần được quản lý chặt chẽ, vì đó là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Mầm bệnh từ trong phân người mà trong quá trình quản lý, s ử d ụng không đ ảm b ảo v ệ sinh đã phát tán ra đất, không khí và các nguồn nước. Đường lan truyền qua tay bẩn, ruổi, nhặng, nước bị ô nhiễm, đất bị ô nhiễm. Vì thê' việc quản lý và s ử d ụng phân đ ảm b ảo v ệ sinh sẽ tránh cho con người không bị các bệnh đường tiêu hoá như: tả, lỵ trực khuẩn, l ỵ amip, th ương hàn, giun sán [23] Giải quyết phân người ở nước ta là một vấn đề bức xúc vì s ố l ượng h ơn 1.1 ngàn t ấn phàn người thải ra hàng ngày trên mặt đất hiện nay đang góp phần to lớn làm cho các nguồn nước bề mặt bị ô nhiễm do vi sinh vật ở các mức độ khác nhau [24] Việc ô nhicm do phân người, phân súc vật do hai yếu tố: - Tập quán quản lý phân: Thói quen sử dụng các hô' xí không hợp vệ sinh làm cho phân người bị rơi vãi ra ngoài, do súc vật nuôi, niồi„,mang đi reo rắc khắp mọi nơi.
- Tập quán sử dụng phân tươi để bón ruộng, nuôi cá; người dân sử dụng phân tươi, hoặc phân ủ nhưng không làm đúng quy cách và không đảm bảo thời gian nên các mầm bệnh ch ưa bị tiêu diệt hết. Quản lý phân người tốt nhất là sử dụng hố xí hợp vệ sinh. Loại hố xí phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt nam cũng như điều kiện canh tác nông nghiệp thì b ất k ể lo ại công trình v ệ sinh nào cũng nhằm giải quyết 2 mục tiêu cơ bản là: - Diệt trừ mầm bệnh để không cho nó phát tấn ra ngoài. - Biến chất thải bỏ (đặc và lóng) thành phân bón hữu cơ đ ể tăng m ầu m ỡ cho đ ất, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng an toàn khi dùng.
Đáp ứng và đàm bảo hai mục tiêu trên công trình vệ sinh phải đạt được yêu cầu là không làm nhiễm bẩn đất và nguồn nước tại nơi xây dựng, không có mùi hôi thối, 5 không thu hút côn trùng và gia súc, tạo điều kiện để phân, chất thải bị phân huy và diệt hết mầm bệnh, thuận tiện khi sử dụng, nhất là đối với trẻ em, được nhân dân chấp nhận và phù hợp với điều kiện của địa phương. [42] Nước ta là một nước nông nghiệp, trên 80% dân số sống ở vùng nồng thôn, vi ệc s ử d ụng phân bắc trong nông nghiệp đã là một tâp quán lâu đời. Lượng phân thải ra nếu được xử lý theo đúng quy cách vệ sinh thì vừa có ý nghĩa phòng bệnh, chống ô nhiễm môi trường, vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế. [20] Tìr năm 1985 tổ chức Unicef đã giúp đỡ Việt Nam thiết lập một chương trình về sinh môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em ở nông thôn.
Mục tiêu của chương trình là: - Thanh toán nạn dùng phân tươi. - Góp phần tạo nếp sống văn minh. - Góp phần cải thiện tình hình vệ sinh trong gia đình. Chương trình VSMT ở nước ta đã được triển khai rộng khắp trên phạm vi toàn quốc và phần nào thu được những kết quả khả quan.
Trước năm 1995 hàng trăm ngàn hô' xí 2 ngăn đã được xây dựng, giai đoạn 1988-1990 trên 40.000 hố xí thấm dội nước đã được xây dựng trên khắp ba miền. [7] Từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước chính phủ và ngành y tê' nước ta đã liên tục phát động phong trào dứt điểm ba công trình vệ sinh ở các địa phương, trong đó hô' xí hai ngăn đã được phổ biến như là một giải pháp thanh trừ phân chủ ỳếu. Kỹ thuật thanh trừ phân này lúc đó đã đ ược nhân dân vùng nông thôn chấp nhân vì cách xây dựng đơn giải, rẻ tiền, hơn nữa còn cung cấp cho nông dân nguồn phân bón dể bón ruộng vườn. Có lúc người ta đã ví h ố xí hai ngăn nh ư m ột nhà máy sản xuất phân đạm mini.
[27] Từ năm I960 dưới sự chỉ đạo của cố Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch, chiến lược vệ sinh môi trường được đưa ra chủ yếu nhằm giải quyết phân người bằng h ố xí hai ngân, kín khô, s ạch, đi một bên, ủ một bên. Cao trào vận động xây dựng 3 công 6 trình vệ sinh đã làm cho bộ mạt nông thôn Việt Nam đổi mới, các bệnh gây ra do phân người, nước bẩn đã giảm đi rõ rệt. Hố xí hai ngãn nếu được xây dựng đúng kỹ thuật và sử dụng đảm bảo vệ sinh thì rất tốt, phù hợp cho các vùng nông thôn Việt Nam và các nước đang phát tri ển. T ại h ội ngh ị Y tê' Châu á và Thái Bình Dương, công trình hô' xí hai ngăn đ ược đánh giá cao và đ ược coi là m ột m ẫu m ực đ ể giải quyết xử lý phân ở vùng nông thôn và các n ước đang phát tri ển.
Ở nh ật B ản, h ố xí hai ngăn được xếp thứ 16 trong danh mục nhũng phát minh lớn của năm 1980. [20] Nếu phân ủ trong hố xí hai ngăn không đúng kỹ thuật thì hố xí hai chỉ là nơi tập trung phân và kết quả có khi lại rất trái ngược nhất là ủ phân không đúng kỳ hạn, hố xí không kín, không đủ chất độn, không được lèn chạt, phân không hoại, khống tiêu diệt được vi khuẩn gây bệnh và trứng ký sinh trùng. Đó là những nguyên nhân gây mất vệ sinh. Mặt khác hố xí hai ngăn nhưng dùng phân tươi hoặc ủ phân chưa đạt yêu cầu đã lấy ra sử dụng nuôi trồng trong nông nghiệp sẽ gây nên sự ô nhiễm môi trường.
Ưu điểm của loại hố xí này là: - Tiêu diệt được mầm bệnh và trứng giun - Không có mùi hôi, không có ruồi nhặng - Dỗ xây dựng, giá thành hạ, tiện lợi trong bảo quản và sử dụng - Đảm bảo mỹ quan, văn minh sạch sẽ - Vãn tân dụng được nguồn phân bón cho nông nghiệp và ngăn chặn đ ược vi ệc l ấy phân tươi ra đồng [7] Loại hố xí thấm dội nước này có ưu điểm nhưng bên cạnh đó cũng có những nhược điểm là dễ gây ô nhiễm đất và nguồn nước nên khi tiến hành xây dựng phải 7 tuân thủ những quy định cụ thể, nhất là về khoảng cách phải cách xa nguồn nước trên 10m. Tính đến hết năm 1991 đã triển khai xây dựng ở 23 tỉnh thành, 130 huyện, 474 xã với 40.766 hố xí thấm dội nước [3]. Ngoài hai loại hố xí hai ngăn và thấm dội nước có một số kiểu hố xí vẫn cồn phổ biến ở một số vùng nước ta như hố xí cầu, hô' xí thùng, hố xí mèo không đảm bảo vệ sinh, vẫn đang phát triển một sô' loại hố xí khác như: hố xí bán tự hoại, hố xí thấm dội nước cải tiến ( xử lý cả phân chuồng, nước tiểu và tắm rửa dồn vào hệ thống ao sinh học để trổng cây và nuôi cá) cũng phát triển. Đạc biệt loại hố xí tự hoại cũng đã được nhiều nơi xây dựng và sử dụng trong đó có cả vùng nông thôn, đây là loại hố xí có tính ưu việt tốt nhất, tuy nhiên giá thành để xây dựng một hố xí kiểu này còn đắt, nên tỷ lệ xây dựng so với các loại hố xí khác còn thấp [15] Một số loại hố xí gặp ở nông thôn nước ta là: Hố xí cầu, hố xí thùng, hố xí chìm, hố xí một ngăn, hố xí hai ngăn ủ phân tại chỗ, hố xí thấm dội nước, hô' xí tự hoại, hố xí bán tự hoại, hô' xí biogas (bổ khí sinh học), cầu tiêu ao cá [24] Ngoài những loại hố xí trên những năm gần đây chúng ta bắt đầu làm quen với cụm từ “hố xí sinh thái”.
Khái niệm sinh thái trong thanh trừ phân dựa trên một thực tiễn khoa học: thiên nhiên vốn là một hệ kín, không có chất thải, chất thải ra của một sinh thể này là ch ất hút vào của một sinh thể khác. Đất cho con người các nguồn dưỡng chất thông qua chuỗi thực phẩm, hố xí sinh thái giúp cho con người trả lại cho đất các dưỡng chất đã vay, khép lại vòng tuần hoàn các yếu tố trong thiên nhiên một cách “êm ái” không làm rối loạn nó. Hố xí sinh thái đối với phân và nước tiểu của con người như là “các nguồn tài nguyên có giá trị cần phải tái sử dụng chứ không phải là các chất thải cần phải đổ bỏ đi. Hô xí hai ngãn sinh thái là những biến thể được phát triển từ hố xí hai ngăn truyền thống và một ý tưởng từ hố xí sấy khô nhờ ánh nắng ở E1 Salvador.
Hi ện nay lo ại h ố xí này đã và đang được thí điểm ở một số' tỉnh miền trung. Có 5 kiểu hố xí mới đã đ ược thi ết kê' và xây d ựng v ới tổng số 62 cái, đó là các kiểu sau: 8 - Hố xí hai ngăn cải tiến, hố xí hai ngăn xấy khô, hố xí hai ngăn sấy khô có ph ần trên di chuyển được, hô' xí xấy khô một thùng, hô' xí sấy khô nhiều thùng. Tất 9 cả các kiểu hố xí trên đều thuộc dạng tách nước tiểu, không dội nước và đều được thông hơi. [27] Nhiều nghiên cứu ở nhiều địa phương cho thấy tỉ lệ hộ gia đình s ử d ụng h ố xí h ợp v ệ sinh vẫn còn thấp.
Tuỳ theo điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế, học vấn, thói quen, tập quán canh tác. ở mỗi vùng, mỗi địa phương khác nhau mà tình hình sử dụng hố xí cũng khác nhau. Hiện nay việc quản lý phân người ở nước ta chưa tốt, ti lệ sử dụng hố xí hợp vệ sinh ở các gia đình còn thấp, vẫn còn một số hộ gia đình không có hô xí. Qua điều tra tại 2.473 hộ gia đình thuộc 7 xã thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình cho thấy tỷ lệ hố xí hai ngăn chỉ có 4%, hố xí một ngăn là 6%, hố xí cầu 88,2%, không có hố xí là 7,8%.
Một nghiên cứu khác ở xã cẩm Sơn, cẩm Bình- Hải Hưng cho biết tỷ lệ hộ có hố xí 98%, trong đó hố xí hai ngăn là 47%, hố xí một ngăn là 47%, cầu thùng 4%, nhưng số hố xí đạt yêu cầu vệ sinh chỉ có 12,6%.