CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LY VE QUAN LÝ CHAT THAI RAN SINH HOAT 1. TONG QUAN VE CHAT THAI RAN SINH HOAT 1. Khái niệm chat thai — Chat thải ran sinh hoạt Chat thải: là bat kỳ loại vat liệu nào mà cá nhân không còn dùng nữa, hoặc chúng không còn tác dụng gì nữa với cá nhân đó, chúng cũng không còn tác dụng gi trong bat cứ hoạt động nào cho sản xuất hoặc dịch vụ. Chất thải rắn sinh hoạt: là một loại chất thải bao gồm các vật dụng hàng ngày được thải ra bởi con người trong quá trình sinh hoạt.
Các chất thải hữu cơ bao gồm thức ăn và chất thải nhà bếp, đồ trang trí sân vườn. Chất thải vô cơ bao gồm giấy, bìa cứng sóng, nhựa, thủy tỉnh, gỗ, các sản phẩm làm từ kim loại như vỏ chai, lon nước uống. Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 1. Nguồn gốc phát sinh CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, các khu dân cư và khu đô thị.
không bao gồm chất thải công nghiệp được tạo ra từ quá trình sản xuất. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt > Theo bản chất nguồn tạo thành > Chất thải từ thực phẩm: là những chất thải rắn có chứa các hợp chất hữu cơ có khả năng dễ bị phân hủy, trong nhiệt độ cao, thời tiết oi bức, nóng, ẩm sẽ khiến quá trình này nhanh hơn; thải ra trong khi chế biến và sử dụng các loại thực phẩm. > Chất thải khác: là những CTR, sẽ không dễ hoặc không bị phân hủy, dễ tạo nên bụi hay những thành phần khác của sự cháy ( như tro xi, than.), hay từ các bếp, lò đốt và các đồ vật khác đã sử dụng, tạo ra nhiều loại nguyên liệu. > Theo mức độ nguy hại: © Chất thải nguy hại: bao gồm tat cả các hóa chất có thé gây ra phản ứng hóa học và các loại hóa chất độc hại cũng như các chất thải sinh học dễ cháy, nô hoặc chất 12 thải phóng xạ, chất thải lây nhiễm hoặc chất thải nguy hại.
rất dễ lây lan, đe dọa đến sức khỏe của con người và các sinh vật xung quanh. © Chất thai không nguy hại: đây là những loại chất thải không bao gồm các loại chất hay hợp chất có những đặc tính có thể gây nguy hại tới sức khỏe của con người. > Theo Điều 75 Luật bảo vệ môi trường năm 2020: © Chat thải ran có khả năng tái sử dụng, tái chế: từ bao bì, vỏ, chai chứa như giấy, kim loại, nhựa. © Chất thải thực phẩm: từ nhà bếp, thực phẩm dư thừa như rau, hoa, lá, quả.
e CTRSH khác: gồm thuốc cũ, sơn, hóa chất, bóng đèn, bình xit, thùng dung phân bón và thuôc trừ sâu, pin, xi đánh giày. Thành phan của chất thải ran sinh hoạt CTRSH bao gồm các thành phan sau: e Giấy, các-tông (từ bao bì hàng hóa) e Kim loại, thủy tinh (từ các vỏ, chai, lọ, hộp chứa) e Chất dẻo (từ dư thừa trong khi sử dụng thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt) e Rac thải điện tử (từ vật dụng điện tử, đồ vật hư hỏng) e Hóa chất (từ chất thai tây rửa, bột giặt. Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường Chất thải sau tiêu thụ, thông qua quản lý và quy trình sản xuất sẽ ảnh hưởng đến chất lượng không khí, chất lượng nước và góp phan vào biến đồi khí hậu. Chat thải rắn được quản lý không đúng cách có thé ảnh hưởng đến môi trường ở các quy mô khác nhau.
Việc đồ chất thải lộ thiên làm ô nhiễm các vùng nước lân cận bởi các chất. Công tác quản lý CTR cũng thải ra nhiều loại khí nhà kính (GHGs); các nguồn phát sinh đáng ké nhất là các bãi chôn lấp, nơi thai ra khí mê-tan khi chất thải hữu cơ bị phân hủy. Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu ước tính răng công tác này thải ít hơn 5% tông lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu (và thải ra 9% khí mê-tan trên toàn cầu). 13 > Ô nhiễm không khí: Phát thải khí độc hại: Quá trình phân hủy các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học (thức ăn thừa, động thực vật chết.) trong CTRSH sẽ phát sinh mùi hôi khó chịu, cụ thể trong các chất sau: e Hidro sunfua: có mùi trứng thôi.
e Axit béo dé bay hơi: Trong quá trình phân hủy ky khí các chất hữu cơ, sẽ hình thành các axit béo: acid axetic (CH3 COOH - C2), acid propionic (CH3). CH2 COOH - C3) va acid butyric CH3 CH2 CH2 COOH- Cs). Day là những chat tạo mùi hôi tại các khu tập kết rác. Ngoài ra, CTRSH còn tạo ra các loại khí nhà kính như: e Khí mêtan: Đây là một khí nhà kính mạnh và các bãi chôn lắp đóng góp 23% tổng lượng phát thải vào năm 2006 (USEPA, 2008).
Ngoài tác dụng của nó trong tầng ôzôn, mêtan còn là một loại khí rất dễ cháy có thé gay ra nhiéu nguy co chay nỗ khác nhau trong và xung quanh các bãi chôn lap. e Khí CO:: chiếm phan lớn trong các bãi lấp. e Phosphin (PH:): rất nguy hiểm khi ngửi, tác động mạnh, đặc biệt trong van đề sinh sản, có thé gây vô sinh. e Amoniac (NH:›): đây là khí chiếm tỷ trọng thấp hơn trong các khu tập kết CTRSH.
> O nhiễm môi trường nước: Ngày nay, ảnh hưởng của CTRSH đối với các nguồn nước vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Một số người cho rằng ngay cả các loại CTRSH thông thường như giấy, báo, bìa các-tông cũng có nguy cơ đáng ké lên chất lượng của nước sử dụng, trong khi có người khác cho rằng tác động này của các bãi chôn lấp lên nước ngầm sé không đáng kể nếu các vật liệu nguy hiểm (vi dụ: dầu máy, sơn, hóa chat, tro lò đốt) bị cắm sử dụng. Các chuyên gia cũng lập luận rằng mặc dù nước rỉ rác là một trách nhiệm môi trường rõ ràng, nhưng tần suất và mức độ về sự nghiêm trọng của nước rỉ rác là không chắc chăn và có khả năng hạn chê tôi đa được thông qua việc sàng lọc và niêm phong 14 thích hợp. Tuy nhiên, nếu nước rỉ rác thắm vào nước ngầm, nó có thể là nguồn gốc của nhiều chất gây ô nhiễm, ví dụ như một số hợp chất hữu cơ có thể làm giảm khả năng oxy hóa-khử và tăng tính di động của các kim loại độc hại (Kelly, 2002).
Ở địa phương, một số nhà quản lý CTR thu được nước rỉ rác rồi bơm trở lại bãi chôn lấp. Quá trình này giúp giữ cho nó không bị thấm ra ngoài và thực sự đây nhanh quá trình phân hủy những chất này. Thậm chí khi việc chôn lấp đã tuân thủ đầy đủ quy trình thì CTRSH vẫn còn những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến nguồn nước. > Ô nhiễm môi trường đất và mắt cảnh quan các khu đô thị Sự tích tụ của CTRSH đã làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và đất, bao gồm cả chất thải nguy hai và không nguy hại.
Khi chat thải bi lắng đọng trên một khu vực dat, tính thấm của các thành tạo đất bên dưới chất thải có thé làm tăng hoặc giảm nguy cơ 6 nhiễm đất. Độ thắm của đất càng cao thì khả năng ô nhiễm đất càng tăng. Đó là lý do tại sao các bãi chôn lấp, hệ thống xử lý Texas, được xây dựng trong một khu vực lý tưởng. Bang cách sử dụng đá phiến sét và đất sét tự nhiên trong dat, nguy co ô nhiễm đất đã được giảm thiểu đáng kể.
Ngoài ra, việc xả thải bừa bãi tại các khu đô thị, vỉa hè, gây mất mỹ quan cũng là một trong những tác động đáng lưu ý của CTRSH. Những bãi rác lộ thiên, các thùng rác chất đồng, rỉ rác chảy dọc đường đi là các hình ảnh quen thuộc tại những nơi mà người dân sinh sống và làm việc. Tác động của chất thải rắn đối với sức khỏe người dân CTRSH ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng, và những tác động này là cụ thé và thay đổi theo từng địa phương. Quan lý CTR còn kém hiệu quả, những trang thiết bị, hệ thống xử lý còn thiếu sự cải tiến là một trong những nhân tố khiến cho CTRSH ảnh hưởng đến sức khỏe con người, cụ thé như sau: e _ Việc thiếu sót trong quan lý chat thải dẫn đến tích tụ chat thải, thu hút các thực thé trung gian truyền bệnh, có thé làm tắc nghẽn cống rãnh và tạo môi trường sống cho muỗi 15 e Việc đốt chất thai lộ thiên (hoặc đốt rác mà không có biện pháp kiểm soát thích hợp) thải ra một số chất độc hại, gây hại trực tiếp cho con người.
e Việc xuất khẩu bat hợp pháp chat thải độc hại khiến những người tiếp nhận chất thải độc hai bị tôn hại. Nhưng trên thực tế, ngay cả những công nghệ quản lý chất thải tiên tiến cũng mang những rủi ro về sức khỏe: e Sống và làm việc gần các bãi chôn lấp có thé gây ra di tật bam sinh, gần các lò đốt có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh ung thư. e _ Việc hít thở không khí gần các cơ sở ủ phân cũng là một trong những nguyên nhân xuât hiện các bệnh liên quan đên hô hâp. Do đó, từ góc độ sức khỏe, việc loại bỏ dần việc đồ rác và đốt rác lộ thiên là những ưu tiên hàng đầu về van dé cải thiện công tác quản lý.
Ngoài ra, rác thải cũng có tác động khác biệt giữa một số nhóm người trong cộng đồng. Trong đó, công tác quản lý chất thải yếu kém lại gây ảnh hưởng đến người có thu nhập thấp hơn những người giàu có. Người có thu nhập thấp thường có nhiều khả năng sống gần khu chứa chất thải hơn và họ cũng sẽ có nhiều khả năng trở thành những công nhân hoạt động tại các khu xử lý chất thải, những công việc mà nhất thiết phải tiếp xúc với chất thải. Hơn nữa, họ còn có xu hướng có tỷ lệ thương tật và tỷ lệ lây nhiễm cao hơn, cũng như tỷ lệ rủi ro nghề nghiệp cao hơn so với dân số cơ sở.
Bên cạnh đó, những người làm công tác xử lý rác thải phi chính thức cũng sẽ phải đối mặt với rủi ro cao hơn vì sẽ xảy ra tình trạng thiếu quần áo bảo hộ và làm việc trong môi trường không được kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ. Chúng ta cần có thêm nhiều nghiên cứu để khám phá mối quan hệ giữa CTRSH và sức khỏe, đặc biệt tập trung vào sức khỏe liên quan đến nghề nghiệp của những người tái chế phi chính thức ở các nước kém phát triển.