Luận văn thực trạng phòng bệnh lao và một số yếu tố liên quan ở người nhà bệnh nhân lao phổi huyện vĩnh tường tỉnh vĩnh phúc năm 2019

Luận văn phân tích thực trạng phòng bệnh lao và các yếu tố liên quan ở người nhà bệnh nhân lao phổi tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

100
15
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng phòng bệnh lao

Nghiên cứu tập trung vào thực trạng phòng bệnh lao ở người nhà bệnh nhân lao phổi tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019. Kết quả cho thấy tỷ lệ người nhà có thực hành phòng bệnh lao đạt chuẩn chỉ ở mức 26,4%. Các biện pháp phòng bệnh bao gồm tập thể dục thường xuyên, tìm hiểu thông tin về bệnh lao, không hút thuốc lá, nhắc nhở bệnh nhân dùng thuốc đúng chỉ định và khám sức khỏe định kỳ. Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp này còn hạn chế, đặc biệt là khám sàng lọc bệnh lao.

1.1. Thực hành phòng bệnh lao

Thực hành phòng bệnh lao của người nhà bệnh nhân chưa đạt hiệu quả cao. Chỉ 26,4% đối tượng nghiên cứu thực hiện đủ 4/5 biện pháp phòng bệnh. Việc khám sàng lọc bệnh lao định kỳ được xem là yếu tố quan trọng nhưng tỷ lệ thực hiện còn thấp. Điều này cho thấy sự thiếu nhận thức và thực hành đúng đắn trong cộng đồng.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, kiến thức và thái độ về bệnh lao có ảnh hưởng đáng kể đến thực hành phòng bệnh. Nam giới có tỷ lệ thực hành đạt thấp hơn nữ giới. Người có trình độ học vấn cao hơn lại có tỷ lệ thực hành đạt thấp hơn, điều này có thể do sự chủ quan hoặc thiếu thông tin cụ thể.

II. Yếu tố liên quan đến phòng bệnh lao

Nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh lao. Kiến thức đạt về bệnh lao làm tăng khả năng thực hành đạt lên 9,4 lần. Thái độ tích cực cũng giúp tăng tỷ lệ thực hành đạt lên 3,3 lần. Việc nhận được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau cũng có tác động tích cực, làm tăng tỷ lệ thực hành đạt lên 2,4 lần.

2.1. Kiến thức và thái độ

Kiến thức và thái độ đúng đắn về bệnh lao là yếu tố quan trọng giúp cải thiện thực hành phòng bệnh. Người có kiến thức đạt về bệnh lao có tỷ lệ thực hành đạt cao hơn đáng kể. Thái độ tích cực cũng giúp người nhà bệnh nhân chủ động hơn trong việc thực hiện các biện pháp phòng bệnh.

2.2. Nguồn thông tin

Việc nhận được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như truyền thông, y tế cộng đồng và gia đình giúp người nhà bệnh nhân có nhận thức tốt hơn về bệnh lao. Điều này góp phần nâng cao tỷ lệ thực hành phòng bệnh đạt chuẩn.

III. Tình hình bệnh lao tại Vĩnh Tường

Huyện Vĩnh Tường là một trong những khu vực có tỷ lệ bệnh nhân lao cao nhất tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2019, có 60 bệnh nhân lao phổi được quản lý điều trị, trong đó có 4 ca lao kháng thuốc. Công tác phòng chống lao tại địa phương đã được triển khai nhưng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc phòng lây nhiễm cho người nhà bệnh nhân.

3.1. Dịch tễ bệnh lao

Bệnh lao tại Vĩnh Tường có tỷ lệ mắc cao, đặc biệt là ở nhóm người nhà bệnh nhân. Việc lây nhiễm trong gia đình là vấn đề nghiêm trọng, với 4 ca thứ phát được ghi nhận. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường các biện pháp phòng bệnh trong cộng đồng.

3.2. Công tác phòng chống

Công tác phòng chống lao tại Vĩnh Tường đã được triển khai theo hướng dẫn của Chương trình chống lao Quốc gia. Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp phòng bệnh còn hạn chế, đặc biệt là trong việc hỗ trợ người nhà bệnh nhân. Cần tăng cường truyền thông và khám sàng lọc để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm.

IV. Giải pháp và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện thực hành phòng bệnh lao. Cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe, đa dạng hóa các hình thức truyền thông để nâng cao nhận thức cộng đồng. Đồng thời, cần tăng cường khám sàng lọc bệnh lao cho người nhà bệnh nhân và hỗ trợ họ trong việc thực hiện các biện pháp phòng bệnh.

4.1. Truyền thông giáo dục

Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe là giải pháp quan trọng để nâng cao nhận thức về bệnh lao. Cần sử dụng đa dạng các hình thức truyền thông như tờ rơi, hội thảo và phương tiện truyền thông đại chúng để tiếp cận hiệu quả hơn với cộng đồng.

4.2. Khám sàng lọc

Khám sàng lọc định kỳ cho người nhà bệnh nhân lao là biện pháp cần thiết để phát hiện sớm và ngăn ngừa lây nhiễm. Cần triển khai các chương trình khám sàng lọc miễn phí và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, lao vẫn là bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất, ảnh hưởng đến 2 tỷ người (tương đương 1/3 dân số thế giới). Năm 2019, ước tính có khoảng 10 triệu người mắc bệnh lao (TB) trên toàn thế giới. Tổng cộng có 1,4 triệu người chết vì lao vào năm 2019 (trong đó có 208.000 người nhiễm HIV). Trên toàn thế giới, lao là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và là nguyên nhân hàng đầu do một tác nhân lây nhiễm đơn lẻ [1].

Có tới 95% người bệnh lao và 98% ca tử vong do lao là ở các nước đang phát triển, 75% số ca lao đều đang trong lứa tuổi lao động. Bệnh lao trở thành một gánh nặng rất lớn cả về mặt kinh tế và xã hội đối với các nước đang phát triển [2]. Theo Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (USAID) (2015), mỗi năm Việt Nam ghi nhận 17 nghìn ca tử vong do lao, gấp hai lần do nguyên nhân tai nạn giao thông.000 người được chẩn đoán mắc lao, trong đó 5.000 trường hợp mắc lao đa kháng thuốc (MDR-TB - Multidrug- resistant tuberculosis). Chỉ có 52% người mắc lao tại Việt Nam được điều trị [3].

Theo Báo cáo lao toàn cầu năm 2018 của WHO, Việt Nam xếp thứ 16 trong số 30 nước chịu gánh nặng bệnh lao và lao kháng thuốc cao nhất trên thế giới [4]. Thực hiện cam kết với Thế giới về chiến lược chấm dứt bệnh lao vào năm 2030, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác phòng, chống lao: phát hiện điều trị hơn 100.000 người mắc lao mới/năm, tỷ lệ điều trị khỏi được duy trì ở mức trên 90% đối với bệnh nhân lao mới, 75% bệnh nhân lao đa kháng thuốc sử dụng phác đồ dài hạn và 80% bệnh nhân lao đa kháng thuốc sử dụng phác đồ ngắn hạn [5]. Người nhà bệnh nhân thường xuyên tiếp xúc người bệnh gần gũi và có khả năng phơi nhiễm cao. Tỷ lệ mắc lao trong nhóm người nhà bệnh nhân cao hơn nhiều so với cộng đồng chung và nhiều trường hợp người nhà bệnh nhân được chẩn đoán xác định với cả lao kháng kháng sinh Rifampicin [6-8].

Phòng bệnh lao là áp dụng các biện pháp giảm nguy cơ bao gồm cả giảm nguy cơ nhiễm và nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao [9]. Trong quá trình phòng bệnh và điều trị lao, vai trò của người nhà bệnh nhân trong việc giám sát, hỗ trợ luôn được đánh giá là rất quan trọng. 2 Các nguy cơ lây nhiễm bệnh sẽ được giảm thiểu đáng kể nếu kiến thức, thực hành phòng bệnh lao được người nhà bệnh nhân nắm rõ. Các hỗ trợ này sẽ góp phần giảm tỷ lệ lao kháng thuốc, rút ngắn thời gian điều trị, và nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.

Ngoài ra, người nhà bệnh nhân sẽ là một kênh thông tin hữu ích để người dân trong cộng đồng tiếp cận, góp phần làm tăng tỷ lệ người bệnh lao được phát hiện sớm, tăng tỷ lệ chữa khỏi bệnh, giảm mặc cảm của người bệnh và sự kỳ thị của xã hội về bệnh lao [2]. Việc kiểm soát bệnh lao bằng cách phát hiện các trường hợp và đưa người nhiễm bệnh vào điều trị trở nên dễ dàng hơn khi dân số mục tiêu trở nên giác ngộ về căn bệnh này [10]. Vĩnh Tường là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2019, trên địa bàn huyện Vĩnh Tường quản lý điều trị 60 bệnh nhân lao phổi (tương đương 27,5/100.

Trong đó: lao thường là 56 bệnh nhân, lao kháng thuốc là 4 bệnh nhân. Tại huyện Vĩnh Tường, việc quản lý điều trị bệnh nhân lao đã được quan tâm thực hiện theo hướng dẫn của chương trình chống lao Quốc gia (CTCLQG). Tuy nhiên, thực hành phòng bệnh lao của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân còn chưa được chú trọng. Qua giám sát, đánh giá cán bộ y tế và người nhà bệnh nhân lao tại huyện Vĩnh Tường cho thấy: một số bệnh nhân chưa quan tâm đến việc phòng tránh lây bệnh cho người nhà, xử lý đờm chưa đúng cách và dùng thuốc chưa đúng chỉ định.

Bên cạnh đó, một số người nhà bệnh nhân còn hạn chế trong việc thường xuyên nhắc nhở, hỗ trợ bệnh nhân về phòng lây bệnh và dùng thuốc đúng quy định. Đó cũng là nguyên nhân trong số 60 bệnh nhân lao phổi đang được quản lý điều trị tại Vĩnh Tường có 4 bệnh nhân là ca thứ phát lây bệnh từ người nhà. Tại Vĩnh Tường hiện vẫn chưa triển khai hoạt động điều trị dự phòng cho trẻ <5 tuổi có tiếp xúc bệnh nhân lao [11]. Hiện nay, tại huyện Vĩnh Tường vẫn chưa có báo cáo nào đánh giá thực hành phòng bệnh lao của người nhà bệnh nhân lao, cũng như các yếu tố nào có liên quan tới vấn đề này? Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực hành phòng bệnh Lao và một số yếu tố liên quan ở người nhà bệnh nhân lao phổi huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019” với mong muốn cung cấp bằng chứng cho công tác phòng, chống lao tại địa phương có hiệu quả hơn.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực hành phòng bệnh Lao của người nhà bệnh nhân lao phổi đang được quản lý điều trị tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh Lao của người nhà bệnh nhân lao phổi đang được quản lý điều trị tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Đại cương về bệnh Lao 1. Khái niệm về bệnh lao Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên. Bệnh lao có thể có mặt ở tất cả các cơ quan của cơ thể, phổ biến nhất là lao phổi (chiếm 80 – 85%) và là nguồn lây chính cho người xung quanh [9]. Cơ chế lây truyền trong bệnh lao: Bệnh lao là có thể lây truyền qua đường hô hấp do hít phải các hạt khí dung có chứa vi khuẩn lao trong không khí.

Các hạt khí dung này sinh ra khi người mắc lao phổi trong giai đoạn tiến triển ho, khạc, hắt hơi (hạt khí dung có đường kính khoảng 1 – 5 micromet lơ lửng trong không khí khoảng từ vài giờ đến 24 giờ). Khả năng lây lan giảm mạnh sau điều trị từ 2 – 4 tuần, do vậy phát hiện và điều sớm bệnh lao sẽ làm giảm lây lan trong cộng đồng [9]. Một số yếu tố liên quan đến sự lây truyền bệnh lao Sự tập trung của các hạt khí dung trong không khí bị chi phối bởi số lượng vi khuẩn do bệnh nhân ho khạc ra và sự thông khí tại khu vực phơi nhiễm; Thời gian tiếp xúc với các hạt khí dung bị nhiễm vi khuẩn lao; Trạng thái gần với nguồn các hạt khí dung mang vi khuẩn lao; Hệ thống miễn dịch suy giảm: HIV, tiểu đường, và suy dinh dưỡng…; Những người sử dụng thuốc lá, rượu có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm lao và bệnh lao; Các yếu tố môi trường: không gian chật hẹp, thông khí không đầy đủ, tái lưu thông không khí có chứa các hạt khí dung chứa vi khuẩn lao [9]. Dịch tễ học bệnh lao Bệnh rất dễ lây từ người sang người qua đường hô hấp.

Khả năng lây mạnh trong thời gian chưa được điều trị. Một người bị lao phổi có ho khạc ra vi khuẩn có thể lây cho 10-15 người khác, đặc biệt là ở những nơi đông đúc, tập trung đông người. Nếu người bệnh được điều trị tốt, khả năng lây bệnh rất thấp. Những người có nguy cơ cao như: mắc các bệnh mạn tính khác như đái tháo đường, nhiễm HIV, 5 điều trị các thuốc ức chế miễn dịch.

Tỷ lệ mắc bệnh ở thành thị nơi mật độ người đông cao hơn ở nông thôn và miền núi [9]. Theo WHO, đến nay, công tác phòng chống lao đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, bệnh lao vẫn được coi là một vấn đề sức khỏe cộng đồng chính trên thế giới. WHO ước tính năm 2016 trên toàn thế giới có khoảng 10,6 triệu ca hiện mắc; trong đó 10% đồng nhiễm HIV.

Bệnh lao đứng thứ hai trong các bệnh truyền nhiễm với khoảng 1,3 triệu người tử vong mỗi năm, trong đó có khoảng 374.000 người chết do lao trong số nhiễm HIV. Con số này làm cho lao là một trong những bệnh gây tử vong hàng đầu ở nữ giới. Năm 2016, ước tính trên toàn cầu tỷ lệ mắc lao đa kháng thuốc (MDR-TB) là 4,1% và 19%, lần lượt trong số người bệnh mới và người bệnh tái điều trị [12]. Trên toàn cầu bệnh lao đang có xu hướng giảm, tỷ lệ mắc giảm khoảng 1,5% mỗi năm.

Trong kế hoạch chiến lược kết thúc bệnh lao (The End TB Strategy) đã được ban hành, WHO đã đưa ra mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trên toàn cầu đến năm 2020 giảm 20% số người mắc lao mới và 35% số người tử vong vì lao so với năm 2015, đến năm 2025 sẽ giảm tương ứng là 50% và 75%. Như vậy, tốc độ giảm mới mắc sẽ cần phải tăng lên từ 4-5%/năm vào năm 2020 và tăng lên 10% vào năm 2025. Hiện nay, ước tính mục tiêu này có thể đạt được ở một số khu vực trên thế giới, tuy nhiên rất có thể sẽ khó đạt được ở khu vực Châu Phi vì liên quan đến tình hình dịch tễ HIV cao [13]. Việt Nam đứng trong top 30 nước có gánh nặng bệnh tật do bệnh lao gây ra và top 20 về MDR-TB cao nhất thế giới [12].

Và bệnh lao vẫn là một trong những bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao tại Việt Nam.000 ca tử vong do lao tại Việt Nam, gấp hai lần tử vong do tai nạn giao thông.000 người có bệnh lao hoạt động; trong đó 5.000 ca là MDR-TB. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 52% người mắc lao tại Việt Nam được điều trị. Dù cho chẩn đoán và thuốc điều trị lao là miễn phí, số tiền mà bệnh nhân phải chi trả có thể bằng một năm thu nhập ở Việt Nam; Điều này là do các chi phí nằm viện và nhu cầu bổ sung dinh dưỡng trong quá trình điều trị [14]. Cùng với sự tiến bộ của y học, nỗ lực của toàn bộ hệ thống, hiện nay bệnh lao tại Việt Nam cũng đang có xu hướng giảm.

Theo báo 6 cáo tại hội thảo vào tháng 1/2013, các chuyên gia của WHO và CTCLQG đã báo cáo tỷ lệ mắc lao tại Việt Nam trong các năm 1990-2010 giảm khoảng 4,6% mỗi năm; tỷ lệ lao mới mắc giảm khoảng 2,6% mỗi năm và tỷ lệ tử vong do lao giảm khoảng 4,4% mỗi năm [15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng phòng bệnh lao và yếu tố liên quan ở người nhà bệnh nhân lao phổi tại Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc 2019 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa bệnh lao trong cộng đồng, đặc biệt là ở những người thân sống chung với bệnh nhân lao phổi. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng phòng bệnh mà còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng như điều kiện sống, nhận thức về bệnh, và sự tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách và cán bộ y tế có cơ sở để cải thiện chiến lược phòng chống lao, giảm thiểu nguy cơ lây lan trong cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe cộng đồng liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai, nghiên cứu này cung cấp thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em trong điều kiện khó khăn. Ngoài ra, Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2017 cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các vấn đề tâm lý xã hội liên quan đến bệnh truyền nhiễm. Cuối cùng, Luận văn dự báo tác động của ô nhiễm không khí đến sức khỏe cộng đồng trung tâm điện lực Duyên Hải, Trà Vinh sẽ giúp bạn hiểu thêm về mối liên hệ giữa môi trường và sức khỏe con người.