Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong giai đoạn tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch trong việc chu chuyển dòng vốn phục vụ sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các khoản nợ xấu đã trở thành điểm nghẽn nghiêm trọng, làm suy giảm tính thanh khoản, cản trở sự lưu thông của dòng tín dụng và đe dọa đến sự an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính - ngân hàng. Tình trạng nợ xấu tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân phức tạp, bao gồm tốc độ tăng trưởng tín dụng nóng trong giai đoạn trước, các bất cập trong công tác phân loại nợ, hiện tượng chuyển nợ, sở hữu chéo cũng như những hạn chế về đạo đức nghề nghiệp và năng lực quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng (TCTD).

Trước bối cảnh đó, chuyên đề tốt nghiệp tập trung giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NHTM và nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng nợ xấu tại hệ thống các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012 – tháng 9/2015, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại cùng nguyên nhân cốt lõi.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính khả thi đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các NHTM và các doanh nghiệp vay vốn nhằm kiểm soát, hạn chế và xử lý hiệu quả nợ xấu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến nợ xấu và công tác quản lý, xử lý nợ xấu tại các NHTM.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, bao gồm cả khối NHTM Nhà nước và NHTM Cổ phần.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực tế trong giai đoạn từ năm 2012 đến tháng 9 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và văn bản pháp lý áp dụng

Chuyên đề tiếp cận vấn đề nợ xấu dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý và các chuẩn mực ngân hàng:

  • Khái niệm và quy định pháp lý về NHTM: Căn cứ theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam năm 1997, Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ và lý thuyết kinh tế học của David Begg về trung gian tài chính.
  • Khái niệm và tiêu chí phân loại nợ: Tiếp cận định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê Liên Hợp Quốc (các khoản nợ quá hạn gốc/lãi trên 90 ngày, hoặc nợ dưới 90 ngày nhưng có cơ sở chắc chắn nghi ngờ khả năng trả nợ); Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005; và Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.
  • Tiêu chuẩn quản trị quốc tế: Tham chiếu khung phân loại nợ quốc tế (5 nhóm nợ), mô hình định giá rủi ro theo chuẩn mực Basel II và Basel III (xác định các chỉ số rủi ro PD, LGD, EAD), cùng kinh nghiệm phân loại nợ của một số quốc gia như Mỹ, Nhật Bản (BOJ), Anh, Hà Lan, Mexico.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp luận: Áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin để nhìn nhận sự vận động, phát triển của hoạt động tín dụng trong tổng thể nền kinh tế thị trường.
  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát thực tế; phương pháp thống kê mô tả, phân tích số liệu, so sánh đối chiếu và tổng hợp logic.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính; báo cáo tài chính đã kiểm toán của các NHTM Việt Nam (Vietcombank, BIDV, VietinBank, ACB, Sacombank, Techcombank, VPBank, SHB, NaviBank, BaoVietBank...); báo cáo khảo sát ngành ngân hàng của Ernst & Young (E&Y); nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR); cùng dữ liệu từ Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC) và hệ thống truyền thông chuyên ngành tài chính (CafeF).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về định chế ngân hàng thương mại và nghiệp vụ tín dụng. Về bản chất, NHTM vận hành như một "bách hóa tài chính" với ba chức năng cốt lõi: trung gian tài chính (trung gian tín dụng và trung gian thanh toán), trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Hoạt động kinh doanh bao gồm nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn (cho vay chiếm 60% – 75% thu nhập nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn nhất, hoạt động đầu tư, hoạt động ngân quỹ với tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định là 10%) và các dịch vụ trung gian.

Chương này phân tích tiêu chí phân loại nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính:

Nhóm nợ Tên nhóm Phương pháp định lượng Phương pháp định tính
Nhóm 1 Nợ đủ tiêu chuẩn Nợ trong hạn hoặc quá hạn dưới 10 ngày Đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
Nhóm 2 Nợ cần chú ý Quá hạn từ 10 đến 90 ngày; nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu Có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ
Nhóm 3 Nợ dưới tiêu chuẩn Quá hạn từ 91 đến 180 ngày; nợ gia hạn nợ lần đầu; nợ được miễn/giảm lãi Đánh giá không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn; có khả năng tổn thất
Nhóm 4 Nợ nghi ngờ Quá hạn từ 181 đến 360 ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày; nợ cơ cấu lại lần 2 Đánh giá có khả năng tổn thất cao
Nhóm 5 Nợ có khả năng mất vốn Quá hạn trên 360 ngày; nợ cơ cấu lần đầu quá hạn trên 90 ngày; nợ cơ cấu lần 2 quá hạn; nợ cơ cấu lần 3 Đánh giá không còn khả năng thu hồi, mất vốn hoàn toàn

Ghi chú: Nợ xấu của hệ thống ngân hàng được xác định là tổng các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5.

Tác giả chỉ ra 5 nhóm nguyên nhân phát sinh nợ xấu: (1) Từ bản thân các TCTD (chạy đua tăng trưởng tín dụng nóng trên 20%, thậm chí đạt 51,39% vào năm 2007; quản trị rủi ro yếu khi chỉ có khoảng 40% NHTM tiếp cận chuẩn mực quốc tế; cán bộ suy thoái đạo đức nghề nghiệp; tâm lý ỷ lại vào tài sản bảo đảm); (2) Từ phía khách hàng và doanh nghiệp vay vốn (năng lực tài chính yếu kém, đòn bẩy tài chính cao đặc biệt ở khối DNNN với tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu đạt 2,52 lần năm 2009, DNNN trung ương lên tới 3,53 lần so với 1,78 lần của khu vực tư nhân); (3) Cơ chế chính sách vĩ mô; (4) Tác động bất lợi từ chu kỳ kinh tế và sự đóng băng của thị trường bất động sản; (5) Công tác thanh tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế.

Chương 2: Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích bức tranh thực tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam (gồm 7 NHTM Nhà nước, 35 NHTM Cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh và 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Tổng dư nợ cho vay toàn nền kinh tế đạt khoảng 125 tỷ USD, tương đương 120% GDP (cao hơn nhiều so với Thái Lan 100%, Hàn Quốc 80%). Tăng trưởng tín dụng từ mức trên 30% giai đoạn 2007–2009 đã giảm mạnh xuống trên 13% năm 2012 và kế hoạch 13%–15% năm 2015.

Quy mô và biến động nợ xấu giai đoạn 2012 – 9/2015: Theo tổng hợp của tác giả, diễn biến quy mô nợ xấu qua các năm thể hiện sự phức tạp:

  • Năm 2012: Tổng nợ xấu đạt 126 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu ghi nhận ở mức 4,81%.
  • Năm 2013: Nợ xấu tăng lên 132 nghìn tỷ đồng. Tính đến cuối tháng 9/2013, tổng nợ xấu nội bảng chiếm 4,62% tổng dư nợ (trên quy mô dư nợ 3,27 triệu tỷ đồng ngày 18/9/2013); nếu không thực hiện cơ cấu nợ và trích dự phòng rủi ro, nợ xấu ước tính lên tới 12,7%.
  • Năm 2014: Nợ xấu đạt đỉnh điểm 169 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,6% tổng dư nợ (theo số liệu báo cáo của các TCTD là 3,25%). Dự phòng rủi ro tín dụng lũy kế đến cuối tháng 12/2014 đạt 75,49 nghìn tỷ đồng (tăng 8,2% so với 2013). Tổng nợ xấu được xử lý trong năm 2014 là 143,5 nghìn tỷ đồng.
  • 9 tháng đầu năm 2015: Nợ xấu giảm xuống còn 155 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu ở mức 3,81% (tháng 6/2015 là 3,72%) và chính thức kéo giảm về dưới mức 3% vào tháng 9/2015 theo đúng mục tiêu của NHNN. Lũy kế từ 2012 đến hết tháng 8/2015, toàn hệ thống xử lý được 424,14 nghìn tỷ đồng nợ xấu (đạt 91,2% tổng nợ xấu ước tính thời điểm tháng 9/2012), trong đó bán nợ cho VAMC chiếm 41%.

Tình hình nợ xấu phân theo ngành kinh tế và phân khúc rủi ro:

  • Cơ cấu theo ngành (theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia ngày 30/4/2013): Tập trung cao nhất ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (21,2%); bán buôn và bán lẻ (16,9%); hoạt động dịch vụ (12,5%); bất động sản (11,4%); xây dựng và VLXD (10,1%); vận tải, kho bãi (9,4%).
  • Tín dụng bất động sản: Tăng trưởng liên tục (2012: 14%, 2013: 14,7%, 2014: 15,2%, 9 tháng 2015: 14,59%). Đến cuối tháng 9/2015, dư nợ bất động sản chiếm 8,05% tổng dư nợ (tương đương 358 nghìn tỷ đồng trên tổng dư nợ 4.893 nghìn tỷ đồng của nền kinh tế), trong đó trên 60% tập trung vào phân khúc xây dựng, sửa chữa, mua nhà và xây dựng đô thị. Tồn kho bất động sản đến 20/9/2015 còn khoảng 59 nghìn tỷ đồng.
  • Tín dụng đầu tư chứng khoán: Dù bị giới hạn không vượt quá 16% vốn tự có/dư nợ, thực tế chiếm 6,5% vốn tự có của các NHTM, quy mô trên 10.000 tỷ đồng (thời điểm 31/5/2012 là 12.000 tỷ đồng, bằng 6,5% dư nợ BĐS).
  • Tín dụng doanh nghiệp Nhà nước: Tính đến tháng 9/2011, dư nợ DNNN là 415.347 tỷ đồng (chiếm 16,9% tổng dư nợ cả nước), riêng 12 tập đoàn kinh tế nhà nước vay 218 nghìn tỷ đồng. Dư nợ lớn nhất gồm PetroVietnam (72.500 tỷ đồng) và Vinashin (19 nghìn tỷ đồng). Các NHTM cho vay DNNN lớn nhất năm 2011 là VietinBank (106.845 tỷ đồng, chiếm 36,4% tổng dư nợ), BIDV (91.190 tỷ đồng, chiếm 31%) và Vietcombank (55.776 tỷ đồng, chiếm 27%).

Thực trạng tại các ngân hàng cụ thể:

  • Giai đoạn 2012–2013: Nợ xấu phân hóa mạnh. Tại thời điểm 9 tháng năm 2012, tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) cao nhất ở BaoVietBank (2,93%), LienVietPostBank (1,46%), Vietcombank (1,42%), KienLongBank (1,36%), BIDV (1,22%), MB (1,07%). Đến quý 3/2013, PGBank ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lên đến 9,5%, NaviBank là 8,6%, SHB là 7,75% (do sáp nhập Habubank), Techcombank vọt lên 5,28%.
  • Giai đoạn 2014–2015: Do áp dụng Thông tư 02, nợ nhóm 5 gia tăng mạnh. Đến quý 2/2015, tổng nợ xấu của 13 ngân hàng lớn tăng 21,2%, trong đó nợ nhóm 5 chiếm 50,6% (đạt 23.850 tỷ đồng). Tại 3 ngân hàng lớn gồm BIDV (nợ nhóm 5 đạt 5.630 tỷ đồng), Vietcombank (nợ nhóm 5 vượt 4.900 tỷ đồng), VietinBank (nợ nhóm 5 đạt 2.685 tỷ đồng). Để xử lý nợ xấu và hạ tỷ lệ về dưới 3% vào tháng 9/2015, các ngân hàng đã trích lập dự phòng quy mô lớn (Vietcombank dùng trên 4.000 tỷ đồng, BIDV dùng gần 1.900 tỷ đồng) đồng thời đẩy mạnh bán nợ nhận trái phiếu đặc biệt VAMC (Eximbank nắm giữ hơn 6.300 tỷ đồng, VPBank hơn 5.100 tỷ đồng).

Chương 3: Giải pháp và các đề xuất kiến nghị nhằm hạn chế nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp nhằm làm lành mạnh hóa tài chính ngân hàng:

Mục tiêu và định hướng: Phấn đấu cơ bản kiểm soát nợ xấu đưa về dưới mức 3% vào cuối năm 2015 và tạo nền tảng phát triển an toàn, bền vững đến năm 2020 gắn liền với đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD.

12 giải pháp trọng tâm:

  1. Tích cực trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý nợ; phát mại tài sản bảo đảm; giãn nợ, giảm lãi suất cho doanh nghiệp có triển vọng.
  2. Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo chuẩn mực quốc tế Basel II, xác định định lượng xác suất vỡ nợ (PD), tổn thất khi vỡ nợ (LGD), dư nợ tại thời điểm vỡ nợ (EAD).
  3. Đẩy mạnh xử lý nợ qua mô hình AMC của các ngân hàng và Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) theo cơ chế thị trường.
  4. Tăng cường hiệu lực thanh tra, giám sát của NHNN; kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng.
  5. Hoàn thiện các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, giới hạn cấp tín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp, hoạt động ủy thác.
  6. Xây dựng và hoàn thiện khung khổ pháp lý cho thị trường mua bán nợ tập trung; ban hành danh sách tổ chức định giá, kiểm toán đủ điều kiện tham gia định giá nợ xấu.
  7. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ; bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cán bộ tín dụng; triệt để xóa bỏ tình trạng sở hữu chéo và lợi ích nhóm.
  8. Phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp nhằm giảm áp lực cung ứng vốn trung - dài hạn đè nặng lên hệ thống NHTM.
  9. Yêu cầu khách hàng vay vốn cơ cấu lại hoạt động, nâng cao năng lực tài chính và quản trị, chủ động phối hợp với ngân hàng lên phương án trả nợ.
  10. Doanh nghiệp cần chủ động chuyển đổi nguồn nguyên liệu đầu vào nội địa thay thế nhập khẩu, tăng cường kết nối chuỗi cung ứng trong nước.
  11. Giải tỏa hàng tồn kho thông qua hạ giá bán, kích cầu thị trường để thu hồi dòng tiền quay vòng vốn; đề xuất Nhà nước miễn, giảm, giãn thuế.
  12. Hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản tái cấu trúc sản phẩm, hạ giá bán, chuyển đổi sang phân khúc nhà ở xã hội, cho thuê hoặc thuê mua.

Các nhóm kiến nghị cụ thể:

  • Đối với Chính phủ: Hoàn thiện môi trường pháp lý về công bố thông tin, quyền sở hữu, chuyển nhượng tài sản thế chấp (đặc biệt là quyền sử dụng đất và bất động sản); tạo cơ chế pháp lý cho công ty AMC tự chủ phát mại tài sản; củng cố thị trường chứng khoán; thành lập Ủy ban Nhà nước xử lý nợ và hình thành công ty mua bán nợ xấu cấp quốc gia có chức năng chứng khoán hóa tài sản xấu.
  • Đối với Ngân hàng Nhà nước: Tăng cường thanh tra đồng bộ các khối ngân hàng; sửa đổi hệ thống tài khoản và chế độ kế toán theo chuẩn mực quốc tế; thúc đẩy M&A giữa ngân hàng mạnh và ngân hàng yếu kém; hỗ trợ thanh khoản kịp thời cho hệ thống.
  • Đối với các NHTM: Thắt chặt quy trình kiểm soát nội bộ; thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng; xử lý dứt điểm nợ xấu cũ bằng dự phòng, bán nợ cho VAMC/DATC; kiểm soát chặt chẽ nợ mới thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng Basel II hiện đại.
  • Đối với doanh nghiệp vay vốn: Chủ động thương lượng cơ cấu nợ, tinh gọn bộ máy, xả hàng tồn kho (sắt thép, xi măng, VLXD, căn hộ), mở rộng thị trường tiêu thụ và giảm phụ thuộc vào đòn bẩy tài chính ngân hàng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Chuyên đề đã phản ánh bức tranh toàn cảnh về thực trạng nợ xấu tại hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2012 – 9/2015 thông qua hệ thống số liệu cụ thể:

  • Làm rõ sự dịch chuyển nợ giữa các nhóm: Nợ xấu có tính chất "động", nợ nhóm 3 và nợ nhóm 5 có xu hướng tăng nhanh (nợ nhóm 5 chiếm trên 50% tổng nợ xấu tại thời điểm giữa năm 2015), phản ánh tình trạng suy giảm chất lượng các khoản vay cũ.
  • Tổng kết kết quả xử lý nợ xấu thực tế: Trong giai đoạn từ năm 2012 đến tháng 8/2015, toàn hệ thống đã xử lý được 424,14 nghìn tỷ đồng (tương đương 91,2% tổng nợ xấu ước tính thời điểm tháng 9/2012), kéo tỷ lệ nợ xấu từ 4,93% (9/2012) về mức an toàn 3,21% (8/2015) và dưới 3% vào tháng 9/2015.
  • Đánh giá vai trò then chốt của công cụ trích lập dự phòng rủi ro và giải pháp chuyển giao nợ sang VAMC (chiếm 41% tổng nợ xấu đã xử lý).

Đóng góp của đề tài

Tác giả đã tổng hợp có hệ thống các luồng quan điểm xử lý nợ từ Hiệp hội các Nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI), các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các chuyên gia kinh tế, từ đó xây dựng một hệ thống giải pháp 4 bên (Chính phủ, NHNN, NHTM, Khách hàng vay vốn) mang tính thực tiễn cao, bám sát các đề án tái cơ cấu của ngành ngân hàng trong giai đoạn 2011–2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu dựa trên nguồn số liệu thống kê thứ cấp tổng hợp đến tháng 9/2015. Tại thời điểm nghiên cứu, số liệu nợ xấu giữa các tổ chức (báo cáo NHTM, Cơ quan Thanh tra NHNN, tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings) còn có sự chênh lệch lớn do sự khác biệt về phương pháp định tính và che giấu nợ xấu nội bảng. Chuyên đề chưa đi sâu phân tích định lượng chi tiết cho từng hồ sơ tín dụng cụ thể tại một chi nhánh ngân hàng riêng biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả thực chất của việc xử lý nợ xấu sau khi bán nợ qua VAMC (xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi tiền mặt thay vì chỉ giữ trái phiếu đặc biệt) và nghiên cứu lộ trình áp dụng toàn diện hiệp ước Basel II, Basel III tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn sau năm 2015.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn:

  • Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng đầy đủ về giai đoạn khủng hoảng nợ xấu và tái cơ cấu ngân hàng 2012–2015; hướng dẫn cách thức tiếp cận và áp dụng Thông tư 02/2013/TT-NHNN vào phân tích chất lượng tín dụng.
  • Đối với cán bộ ngân hàng và nhà nghiên cứu chính sách: Cung cấp dữ liệu chi tiết về cơ cấu nợ vay DNNN, tín dụng bất động sản, chứng khoán và mô hình quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn Basel.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao có sự chênh lệch lớn về số liệu nợ xấu giữa các NHTM, Cơ quan Thanh tra NHNN và các tổ chức quốc tế (như Fitch Ratings)?

Sự sai lệch bắt nguồn từ ba nguyên nhân chính: (1) Nhiều NHTM sử dụng tiêu chí định tính để làm sai lệch thông tin nhằm che giấu nợ xấu; (2) Một số NHTM lợi dụng các quy định chưa chặt chẽ trước đây (Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN) để ghi nhận nợ xấu ở mức thấp nhằm giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro; (3) Tình trạng một khách hàng vay ở nhiều ngân hàng nhưng các ngân hàng không phân loại đồng nhất khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao nhất theo quy định nhằm làm đẹp bảng cân đối kế toán.

2. Sáu lĩnh vực kinh tế nào có tỷ lệ nợ xấu tập trung cao nhất theo thống kê của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (30/4/2013)?

Sáu lĩnh vực bao gồm: Công nghiệp chế biến, chế tạo (21,2%); Bán buôn và bán lẻ (16,9%); Hoạt động dịch vụ (12,5%); Bất động sản (11,4%); Xây dựng và vật liệu xây dựng (10,1%); Vận tải và kho bãi (9,4%).

3. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của khối Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) so với các khu vực khác năm 2009 được ghi nhận như thế nào?

Năm 2009, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của khu vực DNNN ở mức rất cao là 2,52 lần (riêng các DNNN trung ương lên tới 3,53 lần), trong khi khu vực kinh tế tư nhân là 1,78 lần và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 1,39 lần.

4. Từ năm 2012 đến tháng 8/2015, toàn hệ thống ngân hàng đã xử lý được bao nhiêu nợ xấu và tỷ trọng bán nợ cho VAMC là bao nhiêu?

Trong giai đoạn trên, hệ thống các TCTD đã xử lý được 424,14 nghìn tỷ đồng nợ xấu (tương đương 91,2% tổng nợ xấu ước tính thời điểm tháng 9/2012). Trong đó, hình thức bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản VAMC chiếm tỷ trọng 41%, phần còn lại do các TCTD tự xử lý bằng dự phòng rủi ro và đôn đốc thu hồi nợ.

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thùy Dung đã phản ánh chân thực, toàn diện bức tranh nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 9/2015 với hệ thống dẫn chứng và số liệu cụ thể. Tác phẩm làm rõ các nguyên nhân mang tính hệ thống từ sở hữu chéo, tăng trưởng tín dụng nóng đến bất cập trong phân loại nợ và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm. Thông qua việc đề xuất hệ thống giải pháp đa chiều gắn liền với vai trò của VAMC, chuẩn mực Basel II và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, chuyên đề đóng góp tư liệu nghiên cứu giá trị cho quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa hệ thống tài chính quốc gia.