Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống tài chính hiện đại, các ngân hàng thương mại giữ vai trò huyết mạch trong việc cung ứng vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh tín dụng luôn đối mặt với rủi ro tiềm ẩn, trong đó nợ xấu là chỉ tiêu trọng yếu phản ánh trực tiếp chất lượng tín dụng, sức khỏe tài chính và năng lực quản trị rủi ro của từng tổ chức tín dụng. Tình trạng nợ xấu tăng cao và kéo dài không chỉ bào mòn nguồn vốn, suy giảm khả năng thanh toán, đe dọa uy tín của ngân hàng mà còn tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ mang tính hệ thống. Tại Việt Nam, thực tiễn xử lý nợ xấu trong giai đoạn vừa qua cho thấy các quy định về lộ trình, biện pháp và văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn tồn tại những bất cập, thiếu tính linh hoạt so với biến động của thị trường. Nhận diện chính xác và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố gây phát sinh nợ xấu là đòi hỏi cấp thiết nhằm xây dựng giải pháp xử lý căn bản nợ đọng, lành mạnh hóa tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP).
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Kiều Như Quỳnh (chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh) xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới tỉ lệ nợ xấu của các NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021; trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị nhằm giảm thiểu nợ xấu, hỗ trợ các ngân hàng phát triển an toàn và bền vững.
- Mục tiêu cụ thể:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2021.
- Thứ hai, đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2021.
- Thứ ba, đề xuất một vài khuyến nghị nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu nợ xấu của các NHTMCP tại Việt Nam trong tương lai.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Thứ nhất, các yếu tố nào tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam?
- Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến nợ xấu của các NHTMCP tại Việt Nam như thế nào?
- Thứ ba, các giải pháp nào cần được đề xuất nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam trong thời gian tới?
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào 25 NHTMCP tiêu biểu hoạt động liên tục và công bố thông tin minh bạch (trong tổng số 31 NHTM tính đến ngày 31/12/2022 theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp kéo dài 11 năm, từ năm 2011 đến năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận nợ xấu dưới góc độ chuẩn mực quốc tế và quy định pháp lý hiện hành tại Việt Nam. Theo Nhóm chuyên gia tư vấn (AEG, 2014) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2004), nợ xấu được định nghĩa là các khoản nợ quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên, hoặc có cơ sở nghi ngờ bên vay không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) nhấn mạnh yếu tố tổn thất kỳ vọng (expected loss) trong việc đo lường rủi ro danh mục. Tại Việt Nam, nghiên cứu căn cứ vào Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Thông tư số 11/2021/TT-NHNN để xác định nợ xấu thuộc các nhóm: Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Chỉ tiêu đo lường chính là tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay:
$$\text{Tỉ lệ nợ xấu} = \left(\frac{\text{Số dư nợ xấu}}{\text{Tổng dư nợ}}\right) \times 100%$$
Khung lý thuyết giải thích các nhân tố tác động bao gồm hai nhóm:
- Nhóm lý thuyết nhân tố vi mô: Giả thuyết "Quản lý kém hiệu quả" (Bad Management - Berger & DeYoung, 1997) giải thích mối quan hệ giữa chi phí điều hành, chất lượng quản trị và nợ xấu; Giả thuyết "Hiệu ứng quy mô" và "Quá lớn để phá sản" (Too big to fail - Salas & Saurina, 2002; Boyd & Gertler, 1994; Stern & Feldman, 2004) phân tích vai trò của quy mô tài sản; Giả thuyết "Chính sách tín dụng có tính chu kỳ" (Procyclical Credit Policy - Rajan, 1994; Jimenez & Saurina, 2005); Giả thuyết "Rủi ro đạo đức" gắn với mức độ vốn hóa (Moral Hazard - Keeton & Morris, 1987).
- Nhóm lý thuyết nhân tố vĩ mô: Giả thuyết "Xui xẻo" (Bad Luck - Bernanke & Gertler, 1989; Salas & Saurina, 2002; Khemraj & Pasha, 2009); Lý thuyết Thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information - George Akerlof, 1970; Zhang et al., 2016); Lý thuyết kênh cho vay của ngân hàng (Bank Lending Channel Theory - Bernanke & Blinder, 1988; Bernanke & Gertler, 1995); Lý thuyết hiệu ứng số nhân tài chính (Financial Accelerator Theory - Bernanke & Gertler, 1995); Lý thuyết chu kỳ kinh doanh (Business Cycle Theory - Samuelson & Nordhaus, 1948).
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thực nghiệm với dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) gồm 275 quan sát (25 ngân hàng trong 11 năm). Mô hình hồi quy tuyến tính được thiết lập:
$$NPL_{i,t} = \beta_0 + \beta_1 NPL_{i,t-1} + \beta_2 SIZE_{i,t} + \beta_3 ROA_{i,t} + \beta_4 CAP_{i,t} + \beta_5 LG_{i,t} + \beta_6 INF_t + \varepsilon_{i,t}$$
| Ký hiệu biến |
Tên biến |
Phương pháp tính toán |
Kỳ vọng |
| $NPL_{i,t}$ |
Tỉ lệ nợ xấu (Biến phụ thuộc) |
$\text{Số dư nợ xấu}{i,t} / \text{Tổng dư nợ}{i,t}$ |
N/A |
| $NPL_{i,t-1}$ |
Tỉ lệ nợ xấu kỳ trước |
Tỉ lệ nợ xấu trễ 1 năm |
$+$ |
| $SIZE_{i,t}$ |
Quy mô ngân hàng |
$\text{Ln}(\text{Tổng tài sản}_{i,t})$ |
$+$ |
| $ROA_{i,t}$ |
Khả năng sinh lời |
$\text{Lợi nhuận sau thuế}{i,t} / \text{Tổng tài sản}{i,t}$ |
$-$ |
| $CAP_{i,t}$ |
Tỉ lệ vốn chủ sở hữu |
$\text{Vốn chủ sở hữu}{i,t} / \text{Tổng tài sản}{i,t}$ |
$-$ |
| $LG_{i,t}$ |
Tăng trưởng tín dụng |
$(\text{Dư nợ}{i,t} - \text{Dư nợ}{i,t-1}) / \text{Dư nợ}_{i,t-1}$ |
$+$ |
| $INF_t$ |
Tỉ lệ lạm phát |
$(CPI_t - CPI_{t-1}) / CPI_{t-1}$ |
$+$ |
Nguồn dữ liệu vi mô được tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán và báo cáo thường niên của 25 NHTMCP. Dữ liệu vĩ mô về lạm phát được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (data.worldbank.org), Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước. Quy trình ước lượng trên phần mềm Stata 17 được tiến hành tuần tự qua các mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Tác giả thực hiện kiểm định F và kiểm định Hausman để chọn mô hình tối ưu, sau đó kiểm tra các khuyết tật mô hình (đa cộng tuyến bằng hệ số VIF, phương sai sai số thay đổi bằng kiểm định White, tự tương quan bằng kiểm định Wooldridge) và áp dụng mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục triệt để các khuyết tật này.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Chương 1 thiết lập khung đề dẫn cho toàn bộ khóa luận. Tác giả luận giải tính cấp thiết của việc kiểm soát nợ xấu trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chương này công bố chi tiết 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi dữ liệu gồm 25 NHTMCP giai đoạn 2011 – 2021 và quy trình nghiên cứu định lượng. Tác giả chỉ ra đóng góp của đề tài là việc cập nhật dữ liệu đến năm 2021, bổ sung cơ sở thực nghiệm cho công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Việt Nam.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý luận về nợ xấu, tiêu chí phân loại nợ thành 5 nhóm theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN và các công thức tính chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn, tỉ lệ nợ xấu (theo Trần Huy Hoàng, 2011). Tác giả phân tích nguồn gốc phát sinh nợ xấu từ phía ngân hàng (thẩm định sai lệch, bỏ qua quy trình do cạnh tranh) và phía khách hàng (mất khả năng chi trả do biến cố kinh tế, thiên tai, dịch bệnh), đồng thời làm rõ hệ quả tiêu cực của nợ xấu đối với uy tín, thanh khoản và an toàn vốn của ngân hàng.
Chương này trình bày chi tiết các lý thuyết giải thích tác động vi mô và vĩ mô, đồng thời lược khảo có chọn lọc các nghiên cứu quốc tế (Marcello Bofondi & Tiziano Ropele, 2011; Nir Klein, 2013; Monicah Wanjiru Muriithi, 2013; Vasiliki Makri et al., 2014; Johannes Peyavali Sheefeni, 2015; Salas & Saurina, 2002) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Đỗ Quỳnh Anh & Nguyễn Đức Hùng, 2013; Võ Thị Quý & Bùi Ngọc Toàn, 2014; Nguyễn Thị Hồng Vinh, 2017; Nguyễn Thị Ngọc Diệp & Nguyễn Minh Kiều, 2015; Bùi Duy Tùng & Đặng Thị Bạch Vân, 2015). Đánh giá tổng quan cho thấy phần lớn nghiên cứu trong nước trước đây chỉ khai thác chuỗi dữ liệu kết thúc trước năm 2016 hoặc 2018, tạo ra khoảng trống nghiên cứu cần được cập nhật trong giai đoạn mới.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu 7 bước: Thu thập dữ liệu; Thống kê mô tả; Phân tích tương quan và kiểm định đa cộng tuyến (VIF); Ước lượng mô hình Pooled OLS, FEM, REM; Kiểm định lựa chọn mô hình (kiểm định F và kiểm định Hausman); Kiểm định khuyết tật mô hình (kiểm định White về phương sai sai số thay đổi, kiểm định Wooldridge về tự tương quan); Ước lượng FGLS và thảo luận kết quả. Chương này định nghĩa biến phụ thuộc ($NPL$), 6 biến độc lập ($NPL_{t-1}, SIZE, ROA, CAP, LG, INF$), đưa ra công thức tính toán và thiết lập 6 giả thuyết nghiên cứu tương ứng dựa trên các bằng chứng thực nghiệm của các học giả đi trước.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 4 công bố kết quả thống kê mô tả 275 quan sát từ bộ dữ liệu của 25 NHTMCP giai đoạn 2011 – 2021. Kết quả chỉ ra các đặc trưng phân phối của các biến nghiên cứu:
| Tên biến |
Số quan sát |
Giá trị trung bình |
Độ lệch chuẩn |
Giá trị nhỏ nhất |
Giá trị lớn nhất |
| $NPL_t$ |
275 |
2,11% |
1,16% |
0,00% (TPBank) |
8,81% (SHB, năm 2012) |
| $NPL_{t-1}$ |
275 |
2,12% |
1,16% |
0,00% (TPBank, 2011) |
8,81% (SHB, năm 2013) |
| $SIZE$ |
275 |
11,73 |
1,00 |
9,xx (SGB) |
14,38 (BIDV) |
| $ROA$ |
275 |
0,89% |
0,82% |
-5,xx% (TPBank) |
3,65% (Techcombank, 2021) |
| $CAP$ |
275 |
9,21% |
3,36% |
4,xx% |
23,84% |
| $LG$ |
275 |
19,65% |
18,34% |
-29,xx% (TPBank) |
112,40% (SeABank) |
| $INF$ |
275 |
5,15% |
4,37% |
0,xx% |
18,68% |
Sau khi phân tích ma trận tương quan và kiểm định đa cộng tuyến (hệ số VIF đều nhỏ hơn 10, chứng tỏ không xảy ra đa cộng tuyến nghiêm trọng), tác giả ước lượng mô hình Pooled OLS, FEM và REM. Kiểm định Hausman cho giá trị P-value < 5%, bác bỏ giả thuyết $H_0$, xác nhận mô hình FEM phù hợp hơn REM. Tuy nhiên, các kiểm định chẩn đoán khuyết tật đối với mô hình FEM cho thấy sự xuất hiện của hiện tượng phương sai sai số thay đổi (thông qua kiểm định White) và hiện tượng tự tương quan (thông qua kiểm định Wooldridge). Tác giả tiến hành ước lượng hồi quy bằng phương pháp FGLS để khắc phục sai số chuẩn, đảm bảo tính vững của các ước lượng.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả FGLS và thảo luận tính phù hợp của các giả thuyết. Trên cơ sở thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp cho các NHTMCP Việt Nam nhằm kiểm soát tỉ lệ nợ xấu, đồng thời nêu rõ các giới hạn còn tồn tại về mẫu dữ liệu và xác định các hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và đóng góp
Mô hình hồi quy FGLS mang lại các kết luận thực nghiệm về mức độ và chiều hướng tác động của từng nhân tố lên tỉ lệ nợ xấu của 25 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2011 – 2021:
| Biến độc lập |
Chiều tác động thực nghiệm (FGLS) |
Mức ý nghĩa thống kê |
So sánh với kỳ vọng ban đầu |
| $NPL_{t-1}$ (Nợ xấu kỳ trước) |
Cùng chiều ($+$) |
Có ý nghĩa |
Phù hợp với giả thuyết ban đầu |
| $CAP$ (Tỉ lệ vốn chủ sở hữu) |
Cùng chiều ($+$) |
Có ý nghĩa |
Trái ngược với kỳ vọng âm ($-$) |
| $LG$ (Tăng trưởng tín dụng) |
Cùng chiều ($+$) |
Có ý nghĩa |
Phù hợp với giả thuyết ban đầu |
| $INF$ (Tỉ lệ lạm phát) |
Cùng chiều ($+$) |
Có ý nghĩa |
Phù hợp với giả thuyết ban đầu |
| $ROA$ (Khả năng sinh lời) |
Ngược chiều ($-$) |
Có ý nghĩa |
Phù hợp với giả thuyết ban đầu |
| $SIZE$ (Quy mô ngân hàng) |
Không tác động |
Không có ý nghĩa (ở mức 10%) |
Không phù hợp với giả thuyết ban đầu |
Phân tích kinh tế lượng chỉ rõ:
- Tỉ lệ nợ xấu kỳ trước ($NPL_{t-1}$) có tác động cùng chiều mạnh mẽ lên nợ xấu kỳ hiện tại, phản ánh tính quán tính và sự tích tụ của rủi ro tín dụng; nợ xấu khó có thể giải quyết triệt để trong một chu kỳ kế toán ngắn.
- Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ($CAP$) tác động cùng chiều lên nợ xấu, khác với giả định ban đầu về năng lực tự bù đắp rủi ro. Điều này cho thấy tại các NHTMCP có mức đệm vốn dày, tâm lý sẵn sàng chấp nhận các khoản giải ngân có mức độ rủi ro cao hơn nhằm tìm kiếm biên lợi nhuận lớn hơn có thể làm gia tăng nợ khó đòi.
- Tăng trưởng tín dụng ($LG$) tác động cùng chiều lên tỉ lệ nợ xấu. Việc mở rộng quy mô tín dụng quá nhanh thường đi kèm với việc nới lỏng điều kiện và tiêu chuẩn thẩm định, dẫn đến tích tụ nợ xấu trong tương lai khi chu kỳ kinh doanh chững lại.
- Tỉ lệ lạm phát ($INF$) tác động cùng chiều lên nợ xấu. Khi lạm phát gia tăng, chi phí hoạt động và mặt bằng lãi suất tăng, gây áp lực trực tiếp lên dòng tiền và khả năng trả nợ của bên vay.
- Khả năng sinh lời ($ROA$) tác động ngược chiều lên nợ xấu. Ngân hàng có hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực quản trị chi phí và chất lượng danh mục tín dụng tốt (phù hợp với giả thuyết Bad Management).
- Quy mô ngân hàng ($SIZE$) không thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, cho thấy lợi thế quy mô về đa dạng hóa danh mục tín dụng chưa thể hiện rõ nét trong việc kiềm chế nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam.
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các nhóm khuyến nghị:
- Đối với công tác kiểm soát nợ xấu tồn đọng: Theo dõi sát sao các khoản nợ quá hạn từ kỳ trước, xây dựng lộ trình trích lập dự phòng và cơ cấu lại các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro thuộc nhóm 2 và nhóm 3 nhằm ngăn ngừa chuyển nhóm nợ xấu.
- Đối với chính sách tăng trưởng tín dụng: Kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý; thắt chặt quy trình thẩm định tín dụng, tránh nới lỏng điều kiện vay để theo đuổi mục tiêu thị phần.
- Đối với hiệu quả hoạt động và đệm vốn: Nâng cao năng lực quản trị, tối ưu hóa chi phí điều hành để cải thiện ROA; thiết lập cơ chế giám sát rủi ro chặt chẽ tương xứng với mức độ an toàn vốn (CAP), không để đệm vốn cao trở thành động cơ chấp nhận rủi ro quá mức.
- Đối với quản trị rủi ro vĩ mô: Thường xuyên theo dõi diễn biến lạm phát để điều chỉnh kịp thời chính sách lãi suất và kiểm soát danh mục cho vay đối với các lĩnh vực nhạy cảm với biến động vĩ mô.
Đóng góp của khóa luận nằm ở việc bổ sung bằng chứng thực nghiệm cập nhật trong 11 năm (2011 – 2021) trên mẫu 25 NHTMCP Việt Nam, áp dụng quy trình kiểm định khuyết tật đầy đủ (White, Wooldridge, VIF) và kỹ thuật ước lượng FGLS giúp khắc phục sai lệch của các nghiên cứu trước đây vốn chủ yếu dừng lại ở mô hình Pooled OLS, FEM hoặc REM cơ bản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các giới hạn nghiên cứu:
- Về phạm vi mẫu nghiên cứu: Do tính sẵn có và minh bạch của thông tin tài chính công bố qua các năm, tác giả chỉ thu thập được chuỗi số liệu đầy đủ của 25 NHTMCP. Nghiên cứu chưa bao quát toàn bộ 31 ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam tính đến thời điểm 31/12/2022 (thiếu khối NHTM Nhà nước và các NHTM chưa công bố đủ dữ liệu).
- Về số lượng biến số: Mô hình mới chỉ tích hợp một biến vĩ mô duy nhất là tỉ lệ lạm phát ($INF$), chưa xem xét các nhân tố vĩ mô quan trọng khác như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lãi suất điều hành, tỉ giá hối đoái hay cung tiền. Đồng thời, biến vi mô thuộc nội tại ngân hàng có thể bổ sung thêm tỉ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR).
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất bao gồm: Mở rộng cỡ mẫu cho toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam khi có sự cải thiện về tính minh bạch dữ liệu; đưa thêm các biến số kinh tế vĩ mô (GDP, lãi suất, tỉ giá) và biến cấu trúc tài chính vào mô hình để kiểm tra tính vững; đồng thời có thể áp dụng các kỹ thuật ước lượng nâng cao như phương pháp mô men tổng quát (GMM) để kiểm soát triệt để tính nội sinh của các biến số vi mô.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế học: Cung cấp tài liệu tham khảo hoàn chỉnh về phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng thực nghiệm trên phần mềm Stata 17, quy trình chẩn đoán khuyết tật và phương pháp xử lý bằng mô hình FGLS.
- Các nhà nghiên cứu về rủi ro tín dụng: Hệ thống hóa chi tiết các giả thuyết lý thuyết tài chính kinh điển (Bad Management, Too big to fail, Moral Hazard, Asymmetric Information, Financial Accelerator) gắn liền với bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam.
- Cán bộ phân tích và nhà quản trị tại các NHTMCP: Tham khảo số liệu thống kê mô tả thực tế về nợ xấu, khả năng sinh lời, quy mô tài sản và các mối tương quan thực nghiệm để ứng dụng vào công tác thiết lập hạn mức tín dụng và quản trị rủi ro danh mục.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình kinh tế lượng nào làm kết quả kết luận cuối cùng và tại sao?
Tác giả sử dụng mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS). Ban đầu, tác giả thực hiện kiểm định Hausman và lựa chọn mô hình tác động cố định (FEM) thay vì mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Tuy nhiên, các kiểm định chẩn đoán sau đó phát hiện mô hình FEM gặp phải hiện tượng phương sai sai số thay đổi (kiểm định White) và hiện tượng tự tương quan (kiểm định Wooldridge). Mô hình FGLS được áp dụng nhằm khắc phục triệt để hai khuyết tật này, đảm bảo các hệ số ước lượng vững và hiệu quả.
2. Tỉ lệ nợ xấu trung bình của 25 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2011 – 2021 là bao nhiêu và những ngân hàng nào ghi nhận giá trị cực trị?
Theo kết quả thống kê mô tả từ 275 quan sát, tỉ lệ nợ xấu trung bình của 25 NHTMCP là 2,11% trên tổng dư nợ (độ lệch chuẩn 1,16%). Ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu cao nhất là SHB với mức 8,81% vào năm 2012. Ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu thấp nhất là TPBank với mức 0,00%. Vào năm 2021, các ngân hàng kiểm soát nợ xấu tốt nhất được tác giả ghi nhận là Vietcombank, VietinBank và Techcombank.
3. Biến số nào trong mô hình không thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê đến tỉ lệ nợ xấu?
Biến quy mô ngân hàng ($SIZE$, được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản) không có tác động mang ý nghĩa thống kê lên tỉ lệ nợ xấu của các NHTMCP ở mức ý nghĩa 10%. Điều này chỉ ra rằng quy mô tài sản lớn hay nhỏ không phải là yếu tố quyết định đến mức độ gia tăng nợ xấu trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2011 – 2021.
4. Tại sao kết quả thực nghiệm của biến Tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP) lại đi ngược kỳ vọng ban đầu?
Ban đầu, tác giả kỳ vọng $CAP$ có quan hệ ngược chiều với nợ xấu (vốn dày giúp ngân hàng chống đỡ rủi ro tốt hơn). Tuy nhiên, kết quả hồi quy FGLS lại cho thấy $CAP$ tác động cùng chiều ($+$). Điều này được lý giải theo giả thuyết rủi ro đạo đức: khi sở hữu mức đệm vốn chủ sở hữu cao, các nhà quản trị ngân hàng có xu hướng chấp nhận giải ngân vào các danh mục đầu tư hoặc khoản vay có rủi ro cao hơn nhằm tối đa hóa lợi nhuận, gián tiếp làm tăng tỉ lệ nợ xấu phát sinh.
5. Tiêu chuẩn xác định nợ xấu trong khóa luận dựa trên những căn cứ pháp lý và ngưỡng thời gian nào?
Nợ xấu được định nghĩa theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các khoản nợ xấu bao gồm nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn), được xác định dựa trên ngưỡng quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên và/hoặc có nghi ngờ về khả năng thu hồi vốn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Kiều Như Quỳnh đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố vi mô và vĩ mô đến tỉ lệ nợ xấu tại 25 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2011 – 2021. Thông qua phương pháp ước lượng dữ liệu bảng FGLS xử lý tốt các khuyết tật phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, nghiên cứu chứng minh nợ xấu kỳ trước, tỉ lệ vốn chủ sở hữu, tăng trưởng tín dụng và lạm phát có tác động cùng chiều, trong khi khả năng sinh lời tác động ngược chiều và quy mô ngân hàng không có ý nghĩa thống kê. Các kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, làm căn cứ cho việc đề xuất các chính sách quản trị rủi ro tín dụng và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.