Chương 1: Cần trả lời được các câu hỏi sau: a) Thế nào là hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại và đặc điểm của hoạt động cho vay là gì? Đặc trưng của các doanh nghiệp FDI là gì? b) Các chỉ tiêu nào phản ánh được việc thúc đẩy hoạt động cho vay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Ngân hàng thương mại? Thúc đẩy hoạt động cho vay các doanh nghiệp FDI gồm những nội dung gì? 4 c) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc thúc đẩy hoạt động cho vay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Ngân hàng thương mại ? Chương 2: Cần trả lời được các câu hỏi sau: a) Qúa trình thành lập Ngân hàng liên doanh Việt – Nga diễn ra trong bối cảnh nào? Các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng liên doanh Việt – Nga trong giai đoạn 2008 – 2011 là gì? b) Các nhân tố thuộc giai đoạn 2008 – 2011 ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của VRB đối với các doanh nghiệp FDI như thế nào? Những nội dung thúc đẩy hoạt động cho vay các doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng liên doanh Việt – Nga trong giai đoạn 2008 – 2011 là gì? c) Thực trạng hoạt động cho vay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Ngân hàng liên doanh Việt – Nga giai đoạn 2008 – 2011 diễn ra như thế nào? Những ưu điểm, tồn tại và những nguyên nhân của những tồn tại là gì? Chương 3: Cần trả lời các câu hỏi sau: a) Định hướng phát triển hoạt động cho vay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Ngân hàng liên doanh Việt – Nga là như thế nào? Ngân hàng liên doanh Việt – Nga phải thực hiện những giải pháp như thế nào để khắc phục những tồn tại và đạt được những mục tiêu thúc đẩy hoạt động cho vay các doanh nghiệp FDI ? b) Đề xuất kiến nghị với Chính phủ, Ngân hàng nhà nước nhằm tạo điều kiện cho các Ngân hàng nói chung và Ngân hàng liên doanh Việt – Nga nói riêng thúc đẩy hoạt động cho vay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài? 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu: Là thúc đẩy hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Ngân hàng liên doanh Việt Nga 5 4.2 Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Ngân hàng liên doanh Việt Nga trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2011. Định hướng và đề xuất giải pháp đến năm 2015 5.
Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn giải, qui nạp, so sánh trên cơ sở số liệu của Ngân hàng liên doanh Việt – Nga giai đoạn 2008 - 2011 để nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các mục đích đặt ra trong luận văn Luận văn nghiên cứu các quy trình, quy định liên quan đến hoạt động cho vay tại Ngân hàng liên doanh Việt – Nga 6. Kết cấu của đề tài Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương : - Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho vay của NHTM đối với các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam - Chương 2 : Thực trạng thúc đẩy hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng liên doanh Việt – Nga giai đoạn 2008 – 2011 - Chương 3 : Định hướng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động cho vay các doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng liên doanh Việt – Nga đến năm 2015 6 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM 1. Một số vấn đề chung về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Các khái niệm Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm, gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Sự có mặt của NHTM trong hầu hầu các hoạt động kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng : Ở đâu có hệ thống NHTM phát triển thì ở đó có sự phát triển cao của nền kinh tế xã hội và ngược lại. Hiện tại, có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM. Đạo luật của Ngân hàng Cộng hòa Pháp 1941 đã định nghĩa “ Ngân hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và tài chính ”. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998 “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan ”.
Nghị đính số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của chính phủ “ Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước ” Qua các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau : NHTM là một loại hình doanh nghiệp vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính 7 giống như một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Tuy nhiên, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay của NHTM phải an toàn, hiệu quả thì NHTM mới tồn tại và phát triển.
Muốn vậy các khâu của hoạt động cho vay phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định và thực hiện trôi chảy để NHTM thu hồi được vốn và lãi khi kết thúc thời hạn cho vay. Căn cứ vào khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. - Chủ thể tham gia : Bên vay và bên cho vay - Đối tượng là tiền - Hình thức pháp lý là hoạt động tín dụng 1. Đặc điểm của hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Thứ nhất về chủ thể thì chủ thể cho vay là TCTD.
Khác với các giao dịch vay tài sản thông thường, chủ thể vay có thể là bất kì ai có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và sở hữu tài sản vay, trong hoạt động cho vay, bên cho vay phải là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động hợp pháp, có đủ điều kiện để tiến hành hoạt động cho vay. Ở đây, hoạt động cho vay không phải là một giao dịch dân sự đơn thuần mà thực chất là một hoạt động kinh doanh, trong đó, tổ chức tín dụng muốn có được lợi nhuận thông qua hoạt động cho vay. Bên cạnh yếu tố về mục đích, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn được thực hiện một cách chuyên nghiệp, liên tục và có tính chuyên môn nghiệp vụ sâu sắc. Chính vì hoạt động cho vay trong lĩnh 8 vực ngân hàng là hoạt động mang tính chuyên nghiệp cao nên chủ thể thực hiện hoạt động cho vay là các TCTD phải được thành lập hợp pháp, có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật cụ thể là các quy định của luật các TCTD năm 2010, bộ luật dân sự năm 2005, luật doanh nghiệp năm 2005…vv, và chịu sự giám sát chặt trẽ của ngân hàng nhà nước (NHNN).
Thứ hai: đối tượng cấp tín dụng trong hoạt động cho vay là vốn (tiền tệ). Khác với hoạt động cho thuê tài chính, đối tượng cấp tín dụng là tài sản; đối với hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, đối tượng cấp tín dụng là giá trị của các giấy tờ có giá thì đối tượng của hoạt động cho vay luôn luôn là vốn (tiền tệ). Vốn ở đây có thể là đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ. Trong hoạt động cho vay bằng ngoại tệ, tổ chức tín dụng cần đáp ứng thêm một số yêu cầu khác của pháp luật.
Thứ ba: thời hạn trong hoạt động cho vay rất đa dạng, có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong hoạt động cho vay, mục đích của TCTD là cấp cho bên đi vay một khoản tiền để họ sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Yếu tố mà tổ chức tín dụng xem xét để quyết định cho vay chính là tính hiệu quả của việc sử dụng tiền vay và căn cứ vào các biện pháp đảm bảo tiền vay. Nói cách khác, khi tiến hành cho vay TCTD sẽ không bị phụ thuộc vào thời hạn tối đa hay tối thiểu phải tuân thủ.
Căn cứ vào nhu cầu xin vay của bên đi vay, TCTD có thể tiến hành cho vay với nhiều thời hạn khác nhau, thậm chí thời hạn vay có thể chỉ là một vài ngày (trong trường hợp cho vay qua đêm). Đây chính là điểm khác biệt giữa hoạt động cho vay và các hoạt động cấp tín dụng khác của TCTD. Cụ thể, trong hoạt động cho thuê tài chính, thời hạn vay phụ thuộc vào thời gian khấu hao của tài sản thuê. Trong chiết khấu giấy tờ có giá, TCTD phải căn cứ vào thời hạn thanh toán còn lại của giấy tờ có giá để quyết định có nên mua lại hay không.
Còn đối với hoạt động bao thanh toán, thời hạn cấp tín dụng phải căn cứ vào thời gian phát sinh các khoản phải thu của bên được cấp tín dụng. Thứ tư: quan hệ cho vay được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật ngân hàng. Với bản chất là hoạt động ngân hàng nên quan hệ pháp luật về cho vay giữa 9 TCTD và khách hàng chịu sự điều chỉnh trước tiên và trên hết bởi các quy định của pháp luật ngân hàng. Luật các TCTD đã có nhiều quy định về hoạt động cho vay như điều kiện vay vốn, nội dung hợp đồng tín dụng, các biện pháp bảo đảm tiền vay, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng.