Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Sự hình thành, phát triển, đặc điểm và xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Sự hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, phát huy tối đa ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý. của mình áp dụng vào nước đầu tư, nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
Nguồn gốc cơ bản tạo sự di chuyển vốn đầu tư dưới hình thức này là do có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận xuất phát từ lợi thế so sánh khác nhau giữa các quốc gia. Điều kiện thuận lợi cho di chuyển vốn đầu tư là xu thế tự do hoá thương mại, đầu tư và tài chính ngày càng tăng trên thế giới.Lênin, hoạt động đầu tư nước ngoài thực chất là xuất khẩu "tư bản thừa", là hoạt động kinh tế chịu tác động và chi phối của các quy luật kinh tế, là hoạt động kinh tế mang tính khách quan diễn ra khi quá trình tích tụ và tập trung sản xuất đã đạt đến một trình độ nhất định, khi lực lượng sản xuất đã phát triển vượt khỏi biên giới quốc gia.Lênin đề cập vấn đề xuất khẩu tư bản như một đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Theo ông, trong giai đoạn cạnh tranh tự do, đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là xuất khẩu hàng hoá, còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, là xuất khẩu tư bản, bởi vì quá trình tích tụ và tập trung tư bản là điều kiện quan trọng cho sự lớn lên của tư bản và sự "thừa tư bản" như là một tất yếu. "Tư bản thừa" ở đây có tính chất tương đối, tức là thừa so với lợi nhuận thấp nếu phải đầu tư trong nước, còn nếu đầu tư ra nước ngoài thì tỷ suất lợi nhuận sẽ 9 cao hơn.Lênin cho rằng: "Nếu CNTB chú ý đến phát triển nông nghiệp, đến việc nâng cao mức sống của nhân dân.
thì không thể có hiện tượng "tư bản thừa". "Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là CNTB, thì số tư bản thừa vẫn còn chuyên dùng không phải để nâng cao mức sống của quần chúng trong một nước nhất định, vì như thế sẽ đi đến kết quả làm giảm bớt lợi nhuận của bọn tư bản, - mà là để tăng thêm lợi nhuận đó bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu. Trong các nước này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản còn ít, giá đất đai thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ" [24, tr.Lênin rút ra kết luận: xuất khẩu tư bản có tác dụng tích cực và tiêu cực đối với cả nước xuất khẩu và nhập khẩu tư bản, đồng thời nó cùng với buôn bán là một trong những đặc điểm của thương mại quốc tế trong thời đại tư bản độc quyền. Trong thời đại tư bản tài chính thống trị, xuất khẩu tư bản trở thành công cụ bành trướng và thực hiện sự phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền [24, tr.
Mặt khác, thu hút đầu tư từ bên ngoài vào cũng là nhu cầu cấp thiết của các nước nghèo, các nước chậm phát triển.Samuelson, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp chỉ đủ sống ở mức tối thiểu do đó khả năng tích luỹ vốn hạn chế. Các nước này nguồn nhân lực trình độ thấp, kỹ thuật lạc hậu, khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên thấp và gặp phải trở ngại trong việc kết hợp chúng. Trước “cái vòng luẩn quẩn” đó nên cần phải có đầu tư của nước ngoài xem như là “cú hích” từ bên ngoài.Samuelson đánh giá cao vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của các nước nghèo. Ông cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là lực lượng có khả năng làm phá vỡ “vòng luẩn quẩn của nghèo khổ”, tạo ra những điều kiện cho sự phát triển mà không để lại nợ nần.
Do vậy, bản thân các nước này cũng xây dựng những chính sách để thu hút các nước đầu tư vào nước mình. Về cơ bản, nhận định trên của ông nhận được nhiều sự đồng tình. Mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài là giải pháp thực tế nhất đối với các nước nghèo. Dù rằng FDI trước hết phục vụ cho lợi ích các nước xuất khẩu tư 10 bản chứ không phải cho các nước nhận đầu tư, thế nhưng mở cửa vẫn còn hơn là đóng cửa.
Tuy nhiên, FDI vẫn mang lại lợi ích chung cho cả hai bên, dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối nhưng không thể làm khác được vì nó là đòi hỏi tự nhiên, tất yếu của quá trình vận động thị trường. Song, không nên quan niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài là điều kiện duy nhất để các nước nghèo đi lên, là “chìa khóa vạn năng” của sự phát triển [35]. Quá trình tích tụ, tập trung tư bản lớn; sự phát triển khoa học công nghệ cùng với sự phát triển của quá trình phân công lao động xã hội; sự chi phối của các quy luật kinh tế nhất là quy luật lợi thế so sánh đã làm cho hoạt động của FDI ngày càng mở rộng về quy mô lẫn phạm vi. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu Hiện nay, có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng trong luận văn này chỉ đề cập một số hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài sau đây: Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia, quan hệ hợp tác và tổ chức quản lý do các chủ thể đầu tư thoả thuận, ghi trong hợp đồng. Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, hiện nay thường được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp gia công và dịch vụ. Các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn. Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do hai chủ thể hoặc nhiều hơn các chủ thể nước ngoài cùng hợp tác với một nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo Luật pháp của nước nhận đầu tư. Doanh nghiệp liên doanh là loại hình thường được nước tiếp nhận đầu tư 11 chào đón nhất vì hầu hết các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư thường đưa vào các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại để chiếm ưu thế về sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận. Nhưng để đạt được kết quả như mong muốn trong hình thức này, nước tiếp nhận đầu tư phải có khả năng góp vốn, các nhà quản lý doanh nghiệp phải có đủ trình độ và năng lực quản lý, tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến của nước đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, chịu sự kiểm soát theo luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư.
Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài thường được các chủ đầu tư lựa chọn vì họ được toàn quyền quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo ra. Ngoài ra còn một số dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn đầu tư nước ngoài là: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Building Operate Transfer - BOT): Là hợp đồng được ký giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước nhận đầu tư. Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (Building Transfer Operate - BTO): Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (Building Transfer - BT): Là hợp 12 đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước nhận đầu tư; Chính phủ nước nhận đầu tư tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT [41, tr.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn hiện nay Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, FDI là hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư nước ngoài. So với các hình thức đầu tư khác của đầu tư nước ngoài thì FDI có hiệu quả đầu tư cao hơn, tạo sự chuyển biến lớn trong vốn đầu tư toàn xã hội của nước nhận đầu tư, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế theo chiều sâu. Thứ hai, FDI không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho các nước nhận đầu tư mà ngược lại, FDI tạo điều kiện thuận lợi để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước. Thứ ba, FDI chủ yếu đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao, chu chuyển vốn nhanh và có hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên đặc điểm này không rõ ràng.