TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI BAN QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO KỸ SƯ CHẤT LƯỢNG CAO BÀI TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ THIẾT KẾ ĐÔ THỊ THIẾT KẾ ĐÔ THỊ TRỤC ĐƯỜNG LÊ LỢI – QUẬN 1, TP. HỒ CHÍ MINH Giảng viên hướng dẫn : TS. KTS Phạm Anh Tuấn Hà Nội – 12/2021 MỤC LỤC A. Khái niệm cơ bản liên quan đến thiết kế đô thị [2].
Đối tượng của thiết kế đô thị [1]. Nguồn gốc thiết kế đô thị [4]. Mục tiêu của thiết kế đô thị. Ý nghĩa và tầm quan trọng của thiết kế đô thị [1].
Bốn luồng tư tưởng ảnh hưởng đến thiết kế đô thị [1]. Thiết kế đô thị theo chủ nghĩa thực dụng và kinh tế. Thiết kế đô thị như là nghệ thuật vì cái đẹp. Thiết kế đô thị như là quá trình giải quyết các vấn đề đô thị.
Thiết kế đô thị như là thiết kế của cộng đồng. Tổng quan thiết kế đô thị ngày nay [5]. GIỚI THIỆU DỰ ÁN. Vị trí thực hiện đồ án [3].
Tầm nhìn của đồ án [3]. Mục tiêu của đồ án [3]. Mối liên hệ vùng [3]. Lịch sử phát triển [3].
Phương pháp nghiên cứu quy trình thực hiện đồ án [3]. Cơ sở thực tiễn – Bài học kinh nghiệm [3]. La defense – Paris – Pháp. Đô thị cổ Lyon.
Bài học kinh nghiệm. LÝ THUYẾT VỀ THIẾT KẾ ĐÔ THỊ [1] - PHÂN TÍCH LIÊN HỆ VỚI ĐỒ ÁN [3]. Phân tích cấu trúc không gian [1]. Phân tích về mặt hình thức [1].
Yếu tố cây xanh và vật liệu. Phân tích về hình thức kiến trúc. Phân tích giá trị công trình. Phân tích yếu tố tỷ lệ - tầng cao công trình.
Phân tích về giao thông liên kết. Cơ sở lý luận – phương pháp nghiên cứu [1]. Lý luận về địa điểm (Place). Lý luận hình nền (Figure-Ground).
Lý luận liên hệ (Linkage). Phân tích đặc trưng của thiết kế đô thị [1]. Định hướng không gian. Định hướng thời gian.
Con người và môi trường cảnh quan. Đặc trưng đa thân chủ. Mang tính chất chỉ đạo. Phân tích nhân tố cấu thành hình ảnh đô thị [1].
Phân tích nhân tố của thiết kế đô thị [1]. Hình thức và tầm vóc kiến trúc. Sử dụng đất. Không gian công cộng.
Hoạt động sử dụng. Giao thông và chỗ để xe. Bảo tồn và tôn tạo. Tiêu chí và kí hiệu.
Phân tích hiệu quả của thiết kế đô thị [1]. Đặc trưng của công trình kiến trúc. Trải nghiệm đường phố. Sự biểu đạt của công trình kiến trúc.
Tiếp cận công trình kiến trúc. Cảnh quan và không gian đô thị [1]. Nội dung hồ sơ đồ án quy hoạch chi tiết (theo quy định chung) [1]. HỆ THỐNG TÀI LIỆU THAM KHẢO.65 2|Page MỤC LỤC HÌNH ẢNH Hình 1: sơ đồ vị trí khu vực.11 Hình 2: tầm nhìn khu vực.12 Hình 3: vị trí khu vực.13 Hình 4: mối liên hệ vùng.14 Hình 5: lịch sử phát triển khu vực.15 Hình 6: Boulevard Bonnard.16 Hình 7: minh họa.17 Hình 8: minh họa.17 Hình 9: đại lộ lê lợi đầu 1950.18 Hình 10: toàn cảnh đại lộ Lê Lợi từ ks Caravelle.18 Hình 11: đại lộ Lê Lợi về đêm năm 1969.19 Hình 12: phố ở Paris.21 Hình 13: phố ở Paris.21 Hình 14: phố ở Paris.22 Hình 15: minh họa.23 Hình 16: minh họa.23 Hình 17: phân tích cây xanh và vật liệu chủ yếu.25 Hình 18: nhà hát lớn.26 Hình 19: khách sạn Caravelle.26 Hình 20: Louis Vuiiton.27 Hình 21: nhà hát lớn.28 Hình 22: thương xá Tax.29 Hình 23: sơ đồ phân vùng bảo tồn.30 Hình 24: bốn vùng bảo tồn.31 Hình 25: tầng cao khu vực.32 Hình 26: giao thông liên kết.33 Hình 27: lưu lượng giao thông.34 Hình 28: mối liên hệ hình nền.35 Hình 29: hành lang liên hệ thị giác.36 Hình 30: skylien mặt đứng cạnh biên hướng đông và tây.37 Hình 31: không gian trước nhà hát lớn.37 Hình 32: sjc tower.38 Hình 33: minh họa.39 Hình 34: minh họa.39 Hình 35: minh họa.40 Hình 36: minh họa.40 Hình 37: minh họa.41 Hình 38: minh họa.41 Hình 39: minh họa.42 Hình 40: minh họa.43 Hình 41: minh họa.44 Hình 42: sơ đò lưu tuyến, cạnh biên, điểm nút tạo hình ảnh đô thị.46 Hình 43: phân khu chức năng riêng.47 Hình 44: cột mốc khu vực.49 Hình 45: không gian công cộng lớn cuối đường.51 Hình 46: không gian công cộng.52 Hình 47: sơ đồ tổ chức hoạt động.53 Hình 48: giao thông khu vực.54 3|Page Hình 49: minh họa.55 Hình 50: nhà hát lớn.56 Hình 51: nhà hát lớn về đêm.57 Hình 52: tòa opera view.58 Hình 53: khách sạn continental.59 Hình 54: khách sạn Rex.60 Hình 55: chợ bến thành.61 Hình 56: minh họa khoảng lùi công trình.62 Hình 57: minh họa không gian.62 Hình 58: phân bổ cây xanh.63 Hình 59: minh họa.64 Hình 60: minh họa.
Khái niệm cơ bản liên quan đến thiết kế đô thị [2] Nhóm quan điểm thứ nhất: Thiết kế đô thị là nghệ thuật tổ chức không gian đô thị, "nghệ thuật tạo lập và bảo tồn môi trường vật thể đô thị"; " nghệ thuật thiết kế mọi thứ vật thể thuộc về đô thị, trừ các công trình kiến trúc, xây dựng" (Jonathan Barnett, M. Nhóm quan điểm thứ hai: nhìn nhận TKĐT là qui trình, phương pháp thiết kế độc lập tách biệt vừa là cầu nối giữa với QHXD và thiết kế kiến trúc, có đối tượng là tổng thể đô thị hoặc khu đô thị; là thiết kế chi tiết xây dựng các tổng thể kiến trúc đô thị. Nhóm quan điểm thứ ba coi thiết kế đô thị là mục tiêu vừa là nội dung có tính xuyên suốt, thuộc về phạm trù quy hoạch xây dựng đô thị, gắn với quá trình xây dựng và phát triển đô thị. TKĐT là trình tự, phương pháp vừa là sản phẩm của nghệ thuật tổ chức không gian đô thị.
Xuất phát từ quan điểm đô thị là tổng thể thống nhất được hình thành từ các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, mang nội hàm công năng, kinh tế, kỹ thuật và văn hoá tinh thần, có thể hiểu thiết kế đô thị là : "nội dung có tính xuyên suốt của QHXD đô thị, với mục tiêu chủ yếu là tạo lập không gian đô thị vừa bảo đảm công năng có chất lượng thẩm mỹ, nghệ thuật hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của đô thị, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, văn hoá tinh thần của dân cư đô thị". Thiết kế đô thị là nghệ thuật tổ chức cơ cấu, tạo lập mối quan hệ giữa các yếu tố ( nhân tạo, tự nhiên )không gian đô thị, là tổ chức mặt bằng, cơ cấu chức năng, hình khối, tạo lập mối quan hệ thống nhất giữa các thành phần kiến tạo theo yêu cầu nghệ thuật và công năng đô thị, là quá trình không mang tính nghệ thuật thuần tuý, không gian đô thị bao hàm giá trị công năng, giá trị văn hoá, hình thái nghệ thuật, bao hàm hoạt động kinh tế, xã hội của con người. Nội hàm của TKĐT: Thiết kế đô thị vừa là mục tiêu của QHXD; Là nội dung của QHXD; Là Qui trình thiết kế của QHXD; Thiết kế đô thị là cầu nối giữa QHXD và KT; Cơ sở cho thiết kế kiến trúc về các mặt: tính chất, vị trí, lối ra vào chủ yếu, hình thái, không gian màu sắc, phong cách, v.của công trình kiến trúc phù hợp với KTCQ khu vực; II. Đối tượng của thiết kế đô thị [1] Đối tượng của thiết kế đô thị là hình thức đô thị bao gồm môi trường không gian, hình tượng vật thể, ý nghĩa biểu trưng của đô thị và cơ chế triển khai thực hiện chúng.
5|Page Thiết kế đô thị là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố vật chất, tinh thần và pháp luật. Nguồn gốc thiết kế đô thị [4] Thiết kế đô thị xuất hiện trong bối cảnh trào lưu đô thị hóa rầm rộ khắp Âu Mỹ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Có thể nói phần cốt lõi trong lịch sử của nó là từ khoảng 1920 đến 1970, và chia làm 3 giai đoạn theo 3 nhóm tác nhân, nhóm “Founders”, ”Pioneers” và “Developers”. Ban đầu, vấn đề đặt ra là thiết kế một đô thị hoàn toàn mới.
Có 2 trường phái chính, gốc từ châu Âu, một là kiểu cao ốc trong công viên, với mật độ tập trung cao, với liên hệ vùng rộng của CIAM và thứ hai là kiểu phân tán thành các đô thị vườn mật độ thấp và tương đối tự cung tự cấp của Anh. Sang đến Mỹ thời kỳ Hậu chiến, hai ý tưởng gốc này biến thái thành hai giải pháp cơ bản: Khu trung tâm đô thị đi bộ, mật độ cao và các “neighbourhood unit”. Cả hai giải pháp này đều đã có thời kỳ giữa bị coi là kém hiệu quả, nhưng gần đây lại hồi sinh thông qua New Urbanism. Những mô hình duy ý chí kiểu quy chuẩn hiện đại ban đầu được áp dụng khắp nơi, sau này bị lên án, khi nhiều người bắt đầu nghiên cứu kỹ hơn các đặc trưng lịch sử, tự nhiên, kinh tế văn hóa cũng như tâm lý sống của cư dân từng khu đô thị.
Người ta nhận thấy là đô thị là một thực thể nhiều chiều và phức tạp hơn nhiều so với những gì mô hình không gian hiện đại kia đề xuất. Từ việc quy hoạch mới cả đại đô thị, người ta chú trọng thiết kế từng góc nhỏ trong đô thị, cài đặt chúng một cách hữu cơ vào cấu trúc hiện hữu. Vấn đề quy trình thiết kế và vai trò của người thiết kế cũng được đặt lại. Từ lối quy hoạch từ trên xuống, với nhà quy hoạch toàn quyền sinh sát, tới xu hướng tham gia cộng đồng, từ dưới lên, trong đó nhà quy hoạch đóng vai trò tư vấn, kết nối.
Ngược lại, một số nhóm lại chú trọng vào tầm vĩ mô hơn nữa, tức là kết nối cả hệ thống sinh thái, tự nhiên nhân văn trên diện rộng, thậm chí toàn cầu. Nói chung, trong suốt chiều dài lịch sử của nó, thiết kế đô thị đã tìm cách thử trả lời những câu hỏi mà thực tế đặt ra, thử nghiệm và thay đổi rất nhiều giải pháp để có được hệ thống công cụ và kiến thức này nay. Đặc biệt đáng chú ý là tính có tổ chức của lịch sử này. Cả ba nhóm tác nhân nói trên đều thường xuyên cộng tác, trao đổi với nhau thông qua những hội nghị, hội thảo, sách vở, chương trình giảng dạy, nghiên cứu v.
vì thế các trào lưu tư tưởng của từng thời kỳ tương đối có tính nhất quán và rõ ràng. Mục tiêu của thiết kế đô thị Tạo lập không gian đô thị vừa bảo đảm công năng có chất lượng thẩm mỹ, nghệ thuật hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của đô thị, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, văn hoá tinh thần của dân cư đô thị.