CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về máy thở và tầm quan trọng của máy thở trong y tế; thực trạng về sự thiếu hụt máy thở trong đại dịch Covid-19 trên thế giới và tại Việt Nam; nhu cầu hiệu chuẩn thể tích cho các máy thở tự chế trong điều kiện thiếu thốn về công cụ. Từ đó xác lập được tầm quan trọng và tính thiết thực của đề tài.1 Giới thiệu chung Máy thở là thiết bị y tế phục vụ cho thở máy. Thở máy hay còn gọi là thông khí cơ học (nhân tạo) là một hình thức hỗ trợ hay thay thế hoàn toàn chức năng hô hấp của phổi, lồng ngực và các bộ phận có liên quan.
Sự ra đời của việc sử dụng máy thở cơ học trên toàn thế giới cho bệnh nhân bại liệt vào những năm 1950, máy thở đã hỗ trợ cứu sống cho hàng triệu người [1]. Và từ đó, máy thở được phổ biến và sử dụng rộng khắp toàn thế giới để hỗ trợ hô hấp cho bệnh nhân. Hiện nay, máy thở có nhiều biến thể khác nhau, được áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến hiện đại. Bệnh nhân có thể được hỗ trợ thở máy thông qua ống nội khí quản hoặc ống mở khí quản (xâm nhập – Hình 1.2) và qua mặt nạ (không xâm nhập – Hình 1.3) tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân.
Hệ thống này được kết nối với máy thở để thực hiện nhiều công việc khác nhau: vừa đẩy hỗn hợp không khí và oxy (O2) vào phổi, vừa lấy khí, chất thải ra khỏi lồng ngực cho đến khi khả năng hô hấp của bệnh nhân hồi phục.1 Thở máy thông qua ống nội khí quản 1 Hình 1.1 mô tả hỗ trợ thở máy thông qua ống nội khí quản với A là đường để thổi phồng/xì hơi vòng bít; B là đường chọc hút dịch tiết dưới thanh quản; C là nắp thanh quản; D là ETT cuff (bóng chèn); E là vùng chứa dịch tiết dưới thanh quản.2 Thở máy thông qua ống mở khí quản Hình 1.3 Thở máy thông qua mặt nạ khí 1.2 Cơ chế hoạt động của máy thở Để thực hiện quá trình thông khí, các máy thở đều hoạt động dựa vào nguyên lý tạo ra chênh lệch áp lực nhằm đưa khí vào trong và ra ngoài phổi của bệnh nhân. Muốn tạo ra sự chênh lệch áp lực này, các máy thở có thể áp dụng áp lực dương, áp lực âm hoặc phối hợp cả hai. Máy thở áp lực âm Hình 1.4 Cơ chế thở máy áp lực âm Các máy thở áp lực âm tạo ra áp lực âm bên ngoài lồng ngực. Áp lực âm ngoài lồng ngực làm thành ngực nở ra (phồng lồng ngực) và không khí theo hệ thống dẫn khí đi vào phổi bệnh nhân.
Các máy thở loại này có vẻ rất sinh lý khi tạo ra nhịp thở giống với nhịp thở tự nhiên; nhưng khó kiểm soát thông khí cho bệnh nhân và có nhiều hạn chế [2]. Máy thở điển hình cho loại này là “phổi thép” (“iron lung”). Nguyên tắc của máy thở áp lực âm được thể hiện trong Hình 1.4: Hít vào: Bơm hút, tạo ra áp suất âm trong chamber; làm cho lồng ngực phồng lên dẫn đến áp suất trong lồng ngực giảm; làm cho luồng khí đi vào phổi. Thở ra: Bơm ngừng hút, tạo ra cân bằng áp suất do đó sẽ có chu trình ngược lại thì hít vào.
Máy thở áp lực dương Các máy thở áp lực dương tạo ra áp lực dương bên trong phổi. Áp lực dương trong phổi làm cho căng và nở phổi ra. Các máy thở loại này lại tạo ra áp lực dương trong lồng ngực, ngược với sinh lý nhịp thở tự nhiên. Tuy vậy, đây là loại máy thở được dùng phổ biến để hỗ trợ hô hấp và cho phép các bác sỹ can thiệp sâu và kiểm soát tốt hơn thông khí của bệnh nhân.
Nguyên tắc của máy thở áp lực dương được thể hiện trong Hình 1.5: Hít vào: Tạo ra áp lực dương ở Piston giúp bơm không khí vào phổi. Thở ra: Ngừng áp lực dương và van thở ra mở làm cho không khí từ phổi đi ra ngoài.5 Cơ chế thở máy áp lực dương 1.3 Vai trò của máy thở trong điều trị Máy thở là một máy hỗ trợ thở, được sử dụng chủ yếu trong bệnh viện và các cơ sở phục hồi chức năng. Các vấn đề hoặc tình trạng sức khỏe khiến bệnh nhân khó thở thì cần sử dụng đến sự trợ giúp của máy thở. Mục đích chính của thở máy là cải thiện O2 trong máu và đảm bảo thông khí phế nang cho bệnh nhân.
Sự trợ giúp của thở máy nhằm duy trì hợp lý thông khí phế nang bằng cách bơm (thổi) hỗn hợp khí mới vào phổi và tạo điều kiện để hỗn hợp khí cũ thải ra ngoài môi trường. Vì vậy, thở máy còn giúp làm giảm công thở của bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân có khả năng tự thở một cách ổn định; nó đảm bảo rằng bệnh nhân nhận được đầy đủ O2 và khí carbon dioxide (CO2) được loại bỏ giúp bệnh nhân nhanh chóng phục hồi khi mỏi cơ hô hấp. Ngoài ra, thở máy còn giúp chủ động kiểm soát thông khí khi có nhu cầu sử dụng cùng thuốc trong một số trường hợp cụ thể. Máy thở giúp quá trình hô hấp của bệnh nhân ổn định trong khi các loại thuốc và phương pháp điều trị giúp họ hồi phục.
Bệnh nhân có thể cần các loại thuốc được cung cấp qua ống thở. Một số dạng thuốc được sử dụng thông qua ống thở như thuốc dạng khí dung (dạng xịt). Những loại thuốc này có thể được nhắm đến các mục tiêu trong đường thở hoặc phổi. Ba nhóm thuốc chính được cung cấp qua đường hô hấp cho bệnh nhân thở máy bao gồm thuốc giãn phế quản, corticosteroid và kháng sinh [3].
Hiệu quả của thuốc phụ thuộc vào liều lượng và vị trí lắng đọng. Lợi ích lâm sàng của thuốc giãn phế quản cao hơn khi liều hiệu quả được lắng đọng. Tuy nhiên, việc 4 tăng liều sẽ khiến bệnh nhân gặp phải các tác dụng phụ có thể xảy ra (ho, nhịp tim nhanh, run, …) [4, 5]. Đối với kháng sinh dạng hít, nên tăng nồng độ tối đa tại vị trí phổi bị nhiễm trùng để có được tác dụng diệt khuẩn hiệu quả theo các đặc điểm dược động học - dược lực học của thuốc [6].
Vì vậy ta có thể tổng kết lại, những lợi ích chính của thở máy: Người bệnh không phải dành năng lượng để thở nên cơ hô hấp của người bệnh có thời gian được nghỉ ngơi. Cơ thể bệnh nhân có thời thời gian hồi phục và nếu cần, có thêm sự trợ giúp của thuốc cùng đường ống thở. Giúp người bệnh nhận đủ O2 và loại bỏ CO2. Bảo vệ đường hô hấp và ngăn ngừa tổn thương do hít phải dịch từ dạ dày.
Tuy nhiên cần lưu ý, thở máy không làm lành bệnh của người bệnh. Thay vào đó, thở máy cho phép người bệnh có tình trạng ổn định trong khi bác sĩ sử dụng thuốc và phương pháp điều trị khác để điều trị bệnh hoặc chấn thương.4 Những rủi ro khi sử dụng máy thở Có nhiều chấn thương và tình trạng có thể gây suy hô hấp và cần đến sự trợ giúp của thở máy, bao gồm: Chấn thương đầu. Các bệnh liên quan đến phổi. Chấn thương tủy sống.
Bệnh bại liệt. Hội chứng suy hô hấp sơ sinh. Hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS). Nhiễm trùng huyết.
Ngoài ra, các bác sĩ còn sử dụng máy thở cho những người sau phẫu thuật sẽ không thể tự thở do thuốc mê. Có nhiều loại máy thở khác nhau và mỗi loại cung cấp các mức hỗ trợ khác nhau. Bác sĩ và các nhân viên y tế sẽ sử dụng tùy thuộc vào tình trạng của mỗi người. Có một vấn đề cần lưu tâm đến để có thể giảm thiểu ảnh hưởng xấu của thở máy với bệnh nhân là những rủi ro khi sử dụng máy thở: Rất dễ bị nhiễm trùng phổi mà có thể khó điều trị.
5 Máy thở có thể gây tổn hại phổi điển hình là xẹp phổi, xảy ra khi phổi không giãn nở hoàn toàn, làm giảm lượng O2 đi vào máu. Bệnh nhân có thể hít phải các chất lạ vào đường thở (ví dụ như nước bọt), xảy ra do áp suất không khí cao hoặc nồng độ O2 cao gây phù phổi; tràn khí màng phổi liên quan đến việc không khí rò rỉ từ phổi vào không gian ngay bên ngoài gây đau, khó thở. Nếu phải thông lỗ để đưa ống thở vào khí quản, đường thở có thể bị chảy máu. Ống thở có thể làm hỏng dây thanh quản và gây khó khăn để nói chuyện, là hậu quả của cục máu đông trong ống nội khí quản hoặc vết loét do nằm một tư thế trong thời gian dài.
Nếu một người nằm máy thở trong thời gian dài sẽ mê sảng, có thể dẫn đến sang chấn tâm lý hoặc rối loạn căng thẳng sau chấn thương. Ngoài ra, hoạt động và cử động của bệnh nhân bị hạn chế đáng kể khi đang thở máy.2 Thực trạng về sự thiếu hụt máy thở trong đại dịch Covid-19 trên thế giới và tại Việt Nam, và sự ra đời của máy thở tự chế 1.1 Trên thế giới Đại dịch COVID-19 là một bệnh truyền nhiễm do Coronavirus mới gây ra. Đây là một căn bệnh nguy hiểm và rất dễ lây lan bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối tháng 12 năm 2019 [7]. Hiện tại đại dịch này đã lan rộng ra toàn cầu mà chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu.
Một khi Covid-19 thâm nhập vào cơ thể thì gần như bất kì cơ quan nào cũng đều chịu tổn thương. Trong đó hai lá phổi chính là “mặt trận” chính, chịu nhiều sự tàn phá nhất từ mầm bệnh nguy hiểm này. Tình trạng sức khỏe và sự hồi phục của bệnh nhân gần như phụ thuộc hoàn toàn vào sức đề kháng cũng như có hay không mắc bệnh nền của người bệnh. Chỉ trong thời gian ngắn ba tháng từ ngày bùng dịch, đại dịch đã gây ảnh hưởng đến 2.1 triệu người và gây ra cái chết cho hơn 145 nghìn bệnh nhân [8].
Và tính đến đầu tháng 7 năm 2020, trong tổng số 8 triệu trường hợp mắc bệnh đã có hơn 450 nghìn ca tử vong trên toàn cầu [9]. Đây là những con số rất đáng báo động nói lên sự nguy hiểm và khả năng lây lan của đại dịch này. 6 Đại dịch Covid-19 cực kì nguy hiểm đã làm cho rất nhiều bệnh nhân phải nhập viện hay trung tâm điều trị với tình trạng hô hấp khó khăn và có những người phải cần sự trợ giúp của máy thở ngay lập tức.