Tài liệu Nông nghiệp: Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông

Chuyên khảo Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp của người dâ phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực nông

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

214
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Tầm quan trọng của Thích ứng với Biến đổi Khí hậu

Thích ứng với biến đổi khí hậu là quá trình điều chỉnh các hoạt động, hệ thống và cơ cấu của con người nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của khí hậu. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, thích ứng BĐKH đóng vai trò quan trọng giúp người dân vùng ven biển tồn tại và phát triển bền vững. Theo luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thúy Mai, cộng đồng nông dân Huyện Tiền Hải, Thái Bình đã áp dụng nhiều biện pháp thích ứng khí hậu hiệu quả. Tầm quan trọng của việc thích ứng với biến đổi khí hậu nằm ở khả năng bảo vệ sinh kế nông dân, nâng cao năng suất, và đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng địa phương.

1.1. Định nghĩa Thích ứng Biến đổi Khí hậu

Thích ứng BĐKH được định nghĩa là những điều chỉnh trong các hệ thống sinh thái, xã hội và kinh tế nhằm ứng phó với khí hậu thực tế hoặc dự báo và tác động của nó. Trong nông nghiệp, thích ứng khí hậu bao gồm thay đổi giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, và cơ cấu sản xuất. Các hộ nông dân sử dụng biện pháp thích ứng như tích trữ nước, xây dựng đê bao, và chuyển đổi cây trồng để chống lại hạn hán, ngập lụt, và xâm nhập mặn.

1.2. Vai trò Thích ứng trong Nông nghiệp Ven biển

Nông dân ven biển Tiền Hải phải đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu như nắng nóng, xâm nhập mặn, và bão lụt. Thích ứng nông nghiệp giúp họ lựa chọn cây trồng phù hợp, điều chỉnh thời vụ gieo trồng, và áp dụng công nghệ tiên tiến. Thông qua thích ứng với BĐKH, các hộ nông dân có thể duy trì và tăng năng suất, đảm bảo thu nhập ổn định, và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ sau.

II. Thích ứng trong Lĩnh vực Trồng trọt và Chăn nuôi

Thích ứng BĐKH trong trồng trọt là quá trình điều chỉnh các phương thức sản xuất để ứng phó với những tác động bất lợi từ khí hậu. Tại Huyện Tiền Hải, nông dân áp dụng nhiều biện pháp thích ứng nông nghiệp như thay đổi giống lúa kháng bão, chịu mặn, chuyển sang trồng các cây có giá trị cao hơn. Trong lĩnh vực chăn nuôi, thích ứng khí hậu liên quan đến thay đổi giống gia súc, cải thiện chất lượng thức ăn, và xây dựng chuồng trại chịu được điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Những hoạt động thích ứng này giúp nông dân giảm tổn thất, cải thiện hiệu quả kinh tế, và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng.

2.1. Biện pháp Thích ứng trong Trồng trọt

Nông dân Tiền Hải áp dụng nhiều biện pháp thích ứng như thay đổi giống lúa kháng chịu tốt hơn, điều chỉnh thời vụ gieo trồng, và sử dụng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm. Thích ứng BĐKH trong trồng trọt cũng bao gồm hệ thống thoát nước, xây dựng đê bao để chống ngập lụt. Nhiều hộ chuyển sang trồng cây có giá trị cao như cà chua, dưa chuot, hoặc cây dược liệu. Những hoạt động thích ứng này không chỉ giảm rủi ro mà còn tăng thu nhập cho nông dân.

2.2. Chiến lược Thích ứng trong Chăn nuôi

Thích ứng BĐKH trong chăn nuôi bao gồm lựa chọn giống gia súc kháng bệnh, chịu nóng tốt hơn như trâu, bò giống địa phương. Nông dân cải thiện chất lượng thức ăn, xây dựng chuồng trại thông thoáng, có hệ thống che nắng và quạt thông gió. Biện pháp thích ứng cũng liên quan đến thay đổi mô hình chăn nuôi từ chăn thả sang nhốt nuôi có quản lý khoa học. Những cải tiến này giúp nông dân thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng sản lượng chăn nuôi.

III. Thích ứng trong Lĩnh vực Nuôi trồng và Đánh bắt Thủy sản

Thích ứng BĐKH trong nuôi trồng thủy sản là những điều chỉnh kỹ thuật nhằm thích nghi với điều kiện nước biển thay đổi, nước ngọt suy giảm, và tính mặn tăng cao. Nông dân Tiền Hải thay đổi giống cá, tôm, và cải thiện hệ thống nuôi trồng để chống lại xâm nhập mặn. Thích ứng trong đánh bắt thủy sản bao gồm thay đổi vùng đánh bắt, điều chỉnh thời gian và phương pháp khai thác, sử dụng công nghệ định vị GPS. Những hoạt động thích ứng này không chỉ giúp nông dân duy trì sinh kế mà còn bảo vệ tài nguyên thủy sản cho phát triển bền vững. Biện pháp thích ứng được áp dụng dựa trên kinh nghiệm địa phương và hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức quốc tế.

3.1. Thích ứng trong Nuôi trồng Thủy sản

Thích ứng BĐKH trong nuôi trồng liên quan đến lựa chọn giống tôm, cá chịu mặn tốt hơn như tôm sú, cá chép lai. Nông dân cải thiện chất lượng nước, kiểm soát độ mặn, và xây dựng ao nuôi chịu được sóng bão. Biện pháp thích ứng bao gồm sử dụng thức ăn chất lượng cao, duy trì sinh thái ao nuôi lành mạnh. Nhiều hộ đầu tư thêm trang thiết bị như máy bơm nước, lọc nước để cải thiện điều kiện nuôi trồng và tăng năng suất.

3.2. Thích ứng trong Đánh bắt Thủy sản

Ngư dân Tiền Hải áp dụng thích ứng BĐKH bằng cách thay đổi vùng đánh bắt, sử dụng công nghệ GPS và thông tin khí tượng để dự báo điều kiện biển. Biện pháp thích ứng bao gồm điều chỉnh thời gian ra khơi, lựa chọn địa điểm đánh bắt an toàn hơn. Nhiều ngư dân chuyển sang nuôi trồng hoặc các nghề khác khi điều kiện biển không thuận lợi. Hoạt động thích ứng này giúp giảm rủi ro tai nạn, bảo vệ tài nguyên thủy sản, và đảm bảo thu nhập ổn định cho gia đình.

IV. Những Yếu tố và Khuyến nghị cho Thích ứng Bền vững

Thích ứng với biến đổi khí hậu bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tình trạng kinh tế gia đình, tuổi tác, trình độ học vấn, và tiếp cận thông tin. Nông dân trẻ, có điều kiện kinh tế tốt hơn, và có kinh nghiệm học hỏi thường thích ứng BĐKH hiệu quả hơn. Để nâng cao khả năng thích ứng, cần có chính sách hỗ trợ tài chính, tập huấn kỹ thuật, và chia sẻ kinh nghiệm cộng đồng. Biện pháp thích ứng cần được phối hợp giữa nông dân, chính quyền địa phương, các tổ chức nông nghiệp, và tổ chức quốc tế. Thích ứng bền vững đòi hỏi sự cam kết dài hạn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nghiên cứu phát triển, và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

4.1. Các Yếu tố Ảnh hưởng đến Thích ứng

Yếu tố kinh tế là rào cản lớn nhất đối với thích ứng BĐKH, vì các biện pháp đòi hỏi đầu tư vốn lớn. Yếu tố tuổi tác ảnh hưởng: nông dân trẻ thường sẵn sàng thay đổi và thích ứng nhanh hơn. Trình độ học vấn và tiếp cận thông tin về công nghệ mới giúp nông dân ra quyết định thích ứng khoa học hơn. Tính chất của đất đaiđiều kiện khí hậu cũng quyết định lựa chọn biện pháp thích ứng phù hợp cho từng khu vực.

4.2. Khuyến nghị cho Thích ứng Bền vững

Cần thiết lập chương trình hỗ trợ tài chính để nông dân tiếp cận các biện pháp thích ứng tiên tiến. Tăng cường tập huấn kỹ thuậtchia sẻ kinh nghiệm cộng đồng (CBA) để nâng cao kiến thức nông dân. Phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống thoát nước, kho bảo quản nông sản. Thiết lập cơ chế hợp tác giữa nông dân, chính quyền, và các tổ chức USAID, IIED để tạo điều kiện thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 là 11 chương tổng quan về các nghiên cứu đi trước liên quan đến chủ đề luận án. Chương 2 trình bày cơ sở lý luận, địa bàn nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu. Chương 3 và chương 4 làm rõ thực tiễn biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Hai chương này cũng chỉ ra cách thức thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân địa phương đối với biến đổi khí hậu trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản cũng như các yếu tố tác động đến những cách thức thích ứng này.

12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Biến đổi khí hậu cùng với những biểu hiện của nó đang trở thành một vấn đề thách thức của nhân loại trong thế kỷ 21. Những tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu được ghi nhận ở mọi nơi, mọi lĩnh vực. Do vậy, thích ứng với biến đổi khí hậu được coi là chìa khóa để giảm khả năng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực chống chịu với những biến đổi của thời tiết. Đây là vấn đề không những nhận được sự quan tâm của mọi cộng đồng, mọi quốc gia mà còn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của biến đổi khí hậu đến mọi mặt của đời sống xã hội từ các lĩnh vực sản xuất đến sức khỏe của con người. Mặt khác, các nghiên cứu cũng cho thấy, để hạn chế những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cộng đồng đã tự tìm cách thích ứng thông qua những cách thức khác nhau tùy thuộc vào ảnh hưởng đến từng lĩnh vực. Việt Nam được đánh giá là một trong bốn quốc gia chịu nhiều tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu trên thế giới. Do vậy, việc tìm cách thích ứng phù hợp là vấn đề cần thiết được đặt ra trong các chiến lược phát triển cũng như vấn đề đặt ra cho các học giả trong và ngoài nước.

Vậy, vấn đề này đã được nghiên cứu ra sao? Để có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này, tổng quan nghiên cứu sẽ phân tích những đóng góp của các nghiên cứu đi trước dưới hai hướng nghiên cứu chính. Thứ nhất, tìm hiểu hoạt động thích ứng của người dân trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các hoạt động sinh kế của người dân. Thứ hai, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thích ứng. Khách thể nghiên cứu chủ yếu là cộng đồng ven biển, bởi đây là một trong những nhóm đối tượng được đánh giá là chịu nhiều tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu.

THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT, CHĂN NUÔI 1. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt Nông nghiệp là một lĩnh vực phụ thuộc và nhạy cảm với tình hình thời tiết. Biến đổi khí hậu cùng với nó là nước biển dâng và các hình thức thời tiết cực đoan như nắng nóng, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn… liên tiếp xảy ra gây khó khăn cho ngành nông nghiệp. Các nghiên cứu cho thấy các biểu hiện cực đoan của biến đổi khí hậu đều ảnh hưởng đến diện tích canh tác, sự sinh trưởng và năng suất mùa màng cây trồng.

Cụ thể: Theo tác giả Đinh Vũ Thanh, nước biển dâng sẽ khiến cho diện tích canh tác nông nghiệp giảm. Cụ thể, nếu nước biển dâng lên 1m có khả năng ảnh hưởng tới 12% diện tích và 20% dân số Việt Nam, làm ngập khoảng từ 0,3 đến 0,5 triệu ha tại đồng bằng sông Hồng và 1,5-2 triệu ha tại đồng bằng sông Cửu Long và hàng trăm ngàn ha ven biển miền Trung. Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số khoảng hơn 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân [37]. Theo kịch bản BĐKH được Bộ Tài nguyên và Môi trường cập nhật năm 2011, nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, và trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung có nguy cơ bị ngập [37].

Cùng với kết quả nghiên cứu trên UNJP cũng cho rằng, những thay đổi về điều kiện thời tiết do biến đổi khí hậu cũng góp phần làm gia tăng các quá trình xói mòn, sạt lở, ngập úng, ngập mặn… khiến cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Hậu quả là năng suất và sản lượng bị giảm sút. Theo dự báo sản lượng lúa vụ đông xuân của khu vực Nam Trung Bộ sẽ giảm 10% vào năm 2020 và giảm 8% vào năm 2070, còn khu vực đồng bằng sông Hồng sẽ giảm là 12,5% và 16,5 % [91]. 14 Biến đổi khí hậu còn là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tăng trưởng các loại hoa màu bằng việc rút ngắn thời gian tăng trưởng và giảm năng suất cây trồng [16, 91].

Khi nhiệt độ tăng thêm 10C, nó sẽ làm chậm quá trình phát triển của lúa từ 5 đến 8 ngày, và đối với đậu và khoai tây là 3 đến 5 ngày [60]. Nhiệt độ tăng cao và sự thay đổi lượng mưa cũng là nguyên nhân gây làm gia tăng các loài sinh vật gây hại cho cây trồng như sâu cuốn lá, dày nâu, sâu bướm, bọ cánh cứng, nấm … [60]. Nghiên cứu của tác giả Đinh Vũ Thanh cũng cho thấy, nhiệt độ tăng lên khiến cho lượng nước bốc hơi cũng tăng cao dẫn đến lượng nước tưới tiêu bị thiếu hụt nghiêm trọng [37]. Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm gia tăng tình trạng ngập lụt và khiến mùa màng bị thay đổi: “Khoảng giữa tháng 6 đến tháng 9 và tháng 12 đến tháng 4 là thời vụ chính cho nông nghiệp, nhưng những năm gần đây những cơn lũ có chiều hướng thay đổi, đã ảnh hưởng tới mùa vụ” [80].

Cũng chung quan điểm này IIED cho rằng: Nông nghiệp trở nên khó khăn và rủi ro hơn bởi vì tính bất thường của thời tiết, không thể biết được mùa mưa và lượng mưa do vậy không thể quyết định được thời điểm thích hợp để trồng trọt, gieo hạt, thu hoạch [69]. Trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với hoạt động trồng trọt, các nghiên cứu cũng cho thấy người dân đưa ra nhiều hoạt động thích ứng khác nhau. Các biện pháp thích ứng chính được người dân chủ động sử dụng là thay đổi giống cây trồng, thay đổi kỹ thuật canh tác, thay đổi cơ cấu cây trồng hoặc chuyển sang hoạt động sản xuất kinh doanh khác như nuôi trồng thủy sản, làm thuê trong các ngành nghề khác,…: Thay đổi giống cây trồng Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng như trong khu vực và trên thế giới: Đặng Thị Hoa and Quyền Đình Hà năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010, Nguyễn Tuấn Anh năm 2012, Coretha Komba và Edwin 15 Muchapondwa năm 2012, Gutu năm 2014… cho thấy việc thay đổi giống cây trồng phù hợp với tình hình thời tiết, điều kiện thổ nhưỡng được coi là phương thức thích ứng hợp lý: Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Hoa và Quyền Đình Hà tại ven biển Nam Định cho thấy, để thích ứng với những tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu trong trồng trọt cụ thể là trồng lúa nước, nhiều người đã thay đổi giống lúa từ kém chống chịu, dài ngày sang giống lúa có khả năng chống chiụ tốt hơn, ngắn ngày hơn và thích ứng với điều kiện ngập mặn (ví dụ: đối với lúa thuần: chuyển từ Bắc Thơm sang BC15, RVT thơm,…; đối với lúa lai: chuyển từ Tạp giao 838, 903, CT16 sang TH3-3) [16]. Nghiên cứu của Trần Văn Hiếu tại nhiều vùng đồng bằng sông Cửu Long cho thấy người dân trồng những loại lúa nổi để thích ứng với tình hình ngập lụt [67].

Nghiên cứu tại nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu cũng cho thấy việc thay đổi sang những giống cây trồng ngắn ngày được người dân lựa chọn khá phổ biến. Nghiên cứu tại Tazania, một đất nước thuộc khu vực châu Phi với nền nông nghiệp được coi là hoạt động sinh kế chính, Coretha Komba và Edwin Muchapondwa cho thấy trong các hoạt động nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp thì hoạt động chủ yếu là thay đổi những giống cây trồng ngắn ngày hoặc các giống chịu hạn [75, tr11]. Ngoài ra, việc chuyển hẳn sang giống cây trồng khác cũng là một lựa chọn, ví dụ người dân Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế chuyển sang các loại cây trên đất cao như lạc và khoai tây, vốn không cần nhiều nước [7]. Hay nghiên cứu tại quận Seke ở Zimbawei, người dân tự chuyển sang trồng cây thuốc lá do năng suất trồng ngô giảm về chất lượng, năng suất và giá cả [64, tr29].

Thay đổi cơ cấu cây trồng cũng được áp dụng khá phổ biến: thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng đa dạng hóa [64], thử nghiệm xen giống lúa cá hoặc luân canh cây trồng [16, 67]. Các hộ gia đình ven biển Tây Nam, Camerun để 16 thích ứng với những ảnh hưởng ngày càng tăng của lũ lụt, bão, sóng lớn họ tự đa dạng hóa cây trồng bằng cách trồng thêm các loại cây ăn quả bên cạnh các cây trồng truyền thống [Dẫn theo 12]. Tại Ninh Bình, trong những năm gần đây, người dân cấy lúa theo tỷ lệ 50%-50%. Tức là, 50% diện tích canh tác của mỗi hộ gia đình được dùng để cấy lúa cao sản, nhằm tăng nâng suất.

50% diện tích đất còn lại được dung để cấy lúa chất lượng cao. Việc thay đổi tỷ lệ diện tích gieo trồng như thế này giúp cho người dân ở đây vừa có gạo chất lượng cao để ăn, vừa tránh được suy giảm năng suất, hay thiệt hại. Đối với những loại giống cho năng suất cao, chống chọi tốt hơn với thời tiết bất thường, nhưng chất lượng gạo không được ngon thì có thể dùng để chăn nuôi gia súc, gia cầm [4]. Thay đổi kỹ thuật canh tác Cùng với thay đổi giống cây trồng thì thay đổi kỹ thuật canh tác cũng được người dân chú trọng.

Bởi việc thay đổi giống mới cũng cần song hành với kỹ thuật canh tác mới như: phân bón, thời gian gieo trồng, thuốc trừ sâu,… [16]. Nhiều nghiên cứu tại các khu vực ven biển Việt Nam: Nguyễn Tuấn Anh năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010, Đặng Thị Hoa và Quyền Đình Hà năm 2014, … cho thấy trước các thay đổi về quy luật mùa màng. Cụ thể, những biểu hiện thời tiết không mang tính đặc trưng của mùa đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ