Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN 1.1 Khái niệm, đặc điểm của thế chấp tài sản 1. Khái niệm thế chấp tài sản * Thế chấp tài sản là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc sở hữu của mình (tài sản này có thể là tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành trong tương lai) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm mà không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận bảo đảm giữ. * Động sản hay bất động sản đều có thể trở thành đối tượng được nhận là tài sản thế chấp. Tuy nhiên, Điểm khác biệt rõ rệt nhất giữa biện pháp cầm cố tài sản và biện pháp thế chấp tài sản là: "không chuyển giao tài sản".
Nội dung này được cụ thể như sau: - Quan hệ vật chính - vật phụ trong quan hệ thế chấp tài sản: + Nếu bên thế chấp thế chấp toàn bộ bất động sản hoặc động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản hoặc động sản đó đương nhiên phải thuộc tài sản thế chấp, các bên không thể có thỏa thuận khác; + Nếu chỉ thế chấp một phần bất động sản hoặc động sản có vật phụ thì nếu bên thế chấp không muốn vật phụ thuộc tài sản thế chấp thì phải thỏa thuận rõ với với bên nhận thế chấp về việc xác định vật phụ của bất động sản, động sản đó không thuộc tài sản thế chấp. Trường hợp không có thỏa thuận thì vật phụ đương nhiên thuộc tài sản thế chấp đó. - Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai: Khoản 2 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung Nghị định số 11/2012/NĐ-CP: Tài sản hình thành trong tương lai gồm: a) Tài sản được hình thành từ vốn vay; b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; c) Tài sản đã hình thành và 5 thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật. Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất [28].
Như vậy, tài sản hình thành trong tương lai được hiểu chung là những tài sản hình thành từ vốn vay; tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký theo quy định của pháp luật. Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất. - Thế chấp tài sản đang cho thuê Điều 345 Bộ luật Dân sự quy định: "Tài sản đang cho thuê cũng có thể được dùng để thế chấp. Hoa lợi, lợi tức thu được từ việc cho thuê tài sản thuộc tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định" [49].
Theo đó, việc thế chấp tài sản đang cho thuê được thực hiện như sau: + Bên thế chấp chỉ cần thông báo về việc cho thuê tài sản cho bên nhận thế chấp biết. + Đối với trường hợp tài sản đã/đang được thuê (hợp đồng thuê được ký kết trước khi ký hợp đồng thế chấp). Điều 24 Nghị định 163/2006/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung Nghị định số 11/2012/NĐ-CP: Trong trường hợp thế chấp tài sản đang cho thuê thì bên thế chấp thông báo về việc cho thuê tài sản cho bên nhận thế chấp; nếu tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ thì bên thuê được tiếp tục thuê cho đến khi hết thời hạn thuê theo hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác [28]. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ biết được việc tài sản đã cho thuê và chủ thể đang thuê là ai? Từ đó, có những biện pháp quản lý và có những thỏa thuận giữa các bên.
Theo đó, việc xử lý tài sản thế chấp chỉ được thực hiện sau khi kết thúc thời hạn thuê, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; và bên thế chấp phải 6 bồi thường thiệt hại xảy ra (nếu có) cho bên nhận thế chấp do việc không thể xử lý tài sản thế chấp đúng hạn. Bên thuê được tiếp tục thuê cho đến khi hết thời hạn thuê theo Hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Hoa lợi lợi tức thu được từ việc cho thuê tài sản không đương nhiên thuộc về tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên trong Hợp đồng thế chấp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác. Vì giao dịch cho thuê được xác lập trước thời điểm giải ngân tiền vay nên việc ngân hàng có yêu cầu và thỏa thuận với các bên liên quan đến lợi ích của ngân hàng cũng dễ đạt được thỏa thuận trên cơ sở sự ủng hộ tuyệt đối của chủ tài sản.
+ Còn đối với trường hợp tài sản thế chấp được cho thuê sau khi tài sản đã được thế chấp. Vì pháp luật quy định chủ tài sản chỉ cần thông báo cho ngân hàng biết về việc cho thuê mà không cần sự đồng ý của ngân hàng. Theo đó, ở giai đoạn này, phía ngân hàng rất khó để ký thỏa thuận liên quan đến việc cho thuê tài sản thế chấp và phương án xử lý đối với tài sản khi ngân hàng tiến hành xử lý tài sản bảo đảm. Quyền lợi ngân hàng bị hạn chế hơn và quyền lợi của bên thuê tài sản được pháp luật ưu tiên bảo vệ hơn.
- Thế chấp tài sản được bảo hiểm: Điều 346 Bộ luật Dân sự: 1. Trong trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp; 2. Bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Tổ chức bảo hiểm chi trả số tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán với bên nhận thế chấp [49]. + Đối với trường hợp tài sản bảo đảm được đền bù bởi một bên thứ ba thì ngân hàng cần có những thỏa thuận chặt chẽ về việc có sự kiện “bồi thường” bởi trên tinh thần quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự, việc bồi thường tiền bảo hiểm đối với những tài sản thế chấp được bảo hiểm được thực hiện theo nguyên tắc sau: 7 Nếu thế chấp tài sản có bảo hiểm thì trong trường hợp có sự rủi ro đối với tài sản thế chấp, khoản tiền bảo hiểm đương nhiên trở thành tài sản thế chấp. Chế định này đương nhiên được áp dụng không phụ thuộc vào việc các bên có thỏa thuận hay không; Khi nhận thế chấp tài sản, bên nhận thế chấp phải tìm hiểu kỹ về tài sản, nếu tài sản đó đang được bảo hiểm thì khi đồng ý nhận thế chấp tài sản đó, bên nhận thế chấp tiến hành có văn bản thông báo đến tổ chức bảo hiểm biết để khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp. Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm sẽ thực hiện theo Hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm và bên thế chấp.
Bên thế chấp có trách nhiệm thanh toán với bên nhận thế chấp; Trường hợp tài sản thế chấp bị hư hỏng hoặc bị tiêu hủy không phải do lỗi của bên thế chấp và tài sản đó cũng không được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải gánh chịu rủi ro này, cụ thể là bên có quyền không còn tài sản thế chấp và nghĩa vụ của bên thế chấp trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm. + Vì vậy, để đảm bảo tránh rủi ro nhất định ngân hàng yêu cầu khách hàng tiến hành mua bảo hiểm đối với những tài sản dễ hư hỏng hay giảm sút giá trị đặc biệt phải kể đến ở đây là ô tô, tàu thuyền. Đồng thời cần có những thỏa thuận rõ ràng về việc số tiền bảo hiểm sẽ được chuyển cho ngân hàng nếu việc đền bù xảy ra trong giai đoạn tài sản đang được thế chấp tại ngân hàng. + Đồng thời, do hiện nay không có quy định về việc: tổ chức bảo hiểm thực hiện việc chi trả toàn bộ số tiền bảo hiểm hay theo phần tương ứng với nghĩa vụ của bên thế chấp cho bên nhận thế chấp. Vì vậy, ngân hàng cần có thỏa thuận về việc sẽ nhận toàn bộ số tiền được bảo hiểm.
Việc xử lý thừa thiếu số tiền bảo hiểm đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh toán các nghĩa vụ sau khi xử lý tài sản thế chấp. * Một số quy định như: Một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ hoặc dùng nhiều tài sản để bảo đảm cho một nghĩa vụ; tài sản thế chấp thuộc sở 8 hữu của bên thế chấp và được phép giao dịch được thực hiện như biện pháp cầm cố tài sản. Đặc điểm của thế chấp tài sản Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm.
Phân loại thế chấp tài sản 1. Căn cứ mục đích của thế chấp - Thế chấp tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp: Theo quy định hiện hành tại Bộ luật dân sự 2015 thì nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản được quy định như sau: - Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác. - Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp. - Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
- Khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thời gian hợp lý bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. - Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp.