Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Hoạt động xét xử và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân 1. Hoạt động xét xử và vai trò của hoạt động xét xử của Tòa án Hoạt động xét xử của Tòa án là hình thức áp dụng pháp luật quan trọng. Tính chất “áp dụng pháp luật” của hoạt động xét xử được biểu hiện ở những điểm sau đây: a/ Hoạt động xét xử là hoạt động quyền lực Xét xử là hoạt động phán quyết của cơ quan thay mặt Nhà nước nhằm khôi phục trật tự nếu nó bị xâm phạm, hoặc nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân, của tập thể, của quốc gia và xã hội.
Vì vậy, đây là một hoạt động quyền lực nhà nước đặc thù, nó không đơn thuần chỉ là dàn xếp, hòa giải, mặc dù về thực chất, dàn xếp và hòa giải cũng có mục đích như vậy và do đó, có mối liên quan khăng khít với hoạt động xét xử. Hoạt động xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau trong các tranh chấp hay mâu thuẫn đó. Hoạt động trung gian hòa giải và dàn xếp đặc trưng cho lĩnh vực quan hệ hợp đồng khi vấn đề lợi ích có đụng chạm nhưng chưa đến mức nghiêm trọng đến các bên khác hoặc đến lợi ích chung của xã hội và cộng đồng. Do đó, hoạt động này tập trung trong các lĩnh vực kinh doanh, thương mại, gia đình, và các phạm vi hành chính, hình sự nhỏ.
Những sự dàn xếp, hòa giải như vậy có mục đích thúc đẩy sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh 10 doanh, lao động, khi những mâu thuẫn nhỏ còn có khả năng lắng đọng xuống và nhường chỗ cho hoạt động xã hội lành mạnh và tiến bộ. Yếu tố “nhân danh quyền lực nhà nước” trong hoạt động xét xử có nghĩa rằng, đây không phải là hoạt động của cá nhân công dân, cũng không phải là hoạt động xã hội hay nghiệp đoàn. Và do đó, khi cần thiết, phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước được bảo đảm thi hành bởi sự cưỡng chế hợp pháp của Nhà nước; “xem xét, đánh giá và ra phán quyết” là những yếu tố đặc trưng của hoạt động xét xử và do đó, có thể gọi hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử. Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Trong tranh chấp hay xung đột mà Tòa án xem xét và phán quyết phải có từ hai chủ thể trở lên có vị trí độc lập đối với nhau về lợi ích, chứ không thể chỉ là sự dàn xếp cho những người khác nhau về địa vị, nhưng không có gì tranh chấp với nhau. Do đó, có thể gọi sự tranh chấp của các chủ thể khác nhau về lợi ích này là sự tranh tụng (nên còn được gọi là “tố tụng” - tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, v.) Trên đây là những nội dung của hoạt động xét xử. Bất kỳ một hoạt động nào có hàm chứa những nội dung trên thì đều có thể được coi là hoạt động xét xử, dù nó thuộc lĩnh vực nào: hiến pháp, hành chính, hình sự, dân sự, kinh tế, thương mại, đất đai, lao động v. Vai trò và vị trí trung tâm của hoạt động xét xử được giải thích trước hết bởi tính pháp lý của nó trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích.
Thủ tục xét xử của Tòa án, như những yếu tố nêu trên, cho thấy rằng, đó là thủ tục công khai, dễ hiểu, dân chủ: sự độc lập của người xét xử (không là đại diện của bất kỳ bên nào hay của ai có liên quan về lợi ích). Thủ tục ở đây công khai, ai cũng biết và ai cũng phải làm theo như vậy. Thủ tục đó bảo đảm 11 để các bên phản ánh hết ý kiến của mình với Tòa án một cách trực tiếp. Thủ tục đó bảo đảm sự giám sát của Viện kiểm sát, của các luật sư, của nhân dân.
Toàn bộ những yếu tố đó làm cho Tòa án và hoạt động xét xử là một giá trị không gì có thể thay thế được. Ở nước ta, từ trước đến nay, vai trò của Tòa án đối với việc áp dụng, bảo vệ pháp luật luôn luôn được đề cao, tuy ở những giai đoạn khác nhau vai trò đó có những mức độ biểu hiện khác nhau. Bằng chứng là Tòa án là một trong số các cơ quan được thành lập sớm nhất (Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về Tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán). Trong thời gian đầu, vai trò của các Tòa án không chỉ được giới hạn trong việc áp dụng các quy định của pháp luật mà các Tòa án còn được quyền quy định các quy phạm có tính phổ biến và bắt buộc.
Trong tình hình pháp luật của nước ta lúc đó còn rất thiếu, các thẩm phán Tòa án tiến hành xét xử không chỉ theo pháp luật mà còn “theo tinh thần của luật”, theo niềm tin nội tâm và ý thức pháp luật cách mạng. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển lịch sử của Nhà nước ta, các Tòa án đã đóng góp phần quan trọng vào việc tạo nên những quy phạm mới, dần dần được tập hợp trong các “bản tổng kết hàng năm” hoặc các “bản tổng kết chuyên đề xét xử” các vụ án, các loại án. Đó có thể nói là “tiền thân” của các quy phạm và chế định pháp luật và của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các đạo luật quan trọng khác của Nhà nước ta ngày nay. Trong toàn bộ hệ thống áp dụng pháp luật và xét trong mối liên hệ với hệ thống pháp luật, cần phải kể đến vai trò của Tòa án tối cao.
Tòa án tối cao ở nước ta chỉ có thẩm quyền gợi ý các Tòa án các cách giải quyết vấn đề. Đó là các vấn đề về định tội danh, quyết định hình phạt, bồi thường thiệt hại, áp dụng các thủ tục tố tụng v. Chẳng hạn, Tòa án tối cao thường chỉ ra những thiếu sót phổ biến của các Tòa án, những phương pháp giải quyết tốt và điển hình v. để các Tòa án rút ra kinh nghiệm chung.
12 Các giải thích của Tòa án tối cao cũng thường hướng dẫn biện pháp xử lý cho phù hợp với chính sách pháp luật chung của cả nước. Có thể nói rằng, việc áp dụng pháp luật được phản ánh trong các hướng dẫn khác nhau đó của Tòa án tối cao là sự phản ánh của pháp luật trong cuộc sống và đồng thời là cả các yêu cầu của cuộc sống, của thực tiễn pháp lý đối với pháp luật. b/ Hoạt động xét xử là quá trình áp dụng pháp luật sáng tạo Hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án bao gồm những bước sau đây: - Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung điều luật; - Phát hiện những mâu thuẫn trong các nội dung của những quy định đang được áp dụng với các quy định pháp luật hiện hành khác (xung đột luật); - Tìm giải pháp nhằm hợp lý hóa những quy định trái hoặc khác nhau trong khuôn khổ có thể lựa chọn được, nhất là khi vận dụng các khái niệm đánh giá (mức độ tùy nghi); - Sử dụng nguyên tắc tương tự khi phát hiện các “lỗ hổng” của pháp luật; - Đề xuất những nội dung điều chỉnh mới với cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc sửa đổi quy phạm pháp luật. Như vậy, xét xử là cả một quá trình hoạt động sáng tạo của Tòa án hay Tòa án chỉ còn là một “Bộ luật biết nói”? Khi nói đến vị trí và vai trò của Tòa án trong hệ thống pháp luật của một Nhà nước không thể không đề cập đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong những trường hợp phát hiện thấy điều luật đang áp dụng có nội dung trái với Hiến pháp và pháp luật (không hợp pháp).
Trong những trường hợp đó, kinh nghiệm của các nước trên thế giới nói chung đã cung cấp cho ta hai khả năng giải quyết vấn đề. Nói đúng hơn, đó là hai mức độ thẩm quyền của Tòa án trong mối tương quan về thẩm quyền với các cơ quan lập pháp. 13 Trường hợp thứ nhất, Tòa án chỉ ghi nhận tính không hợp pháp (với Hiến pháp và pháp luật hiện hành của Nhà nước, với luật pháp, các hiệp ước và thông lệ quốc tế), rồi sau đó kiến nghị về ý kiến của mình lên cơ quan lập pháp. Trong trường hợp này, cơ quan lập pháp có thể không chấp thuận ý kiến của Tòa án.
Trường hợp thứ hai, sau khi phát hiện điều luật bất hợp hiến và bất hợp pháp, Tòa án có quyền chính thức coi điều luật đó là bất hợp pháp, đề nghị với cơ quan lập pháp có giải pháp sửa đổi hoặc bổ sung luật, hoặc đình chỉ hiệu lực của điều luật để xem xét lại, đề xuất phương án thay thế. c/ Vai trò của thực tiễn xét xử trong việc sử dụng cường độ áp dụng quy định của pháp luật Chính sách pháp luật trong thực tiễn là sự nối tiếp và sự cụ thể hóa chính sách được thể hiện trong pháp luật. Tuy cơ quan thực tiễn không có quyền làm ra những quy phạm có hiệu lực phổ biến đã được thể chế hóa bằng pháp luật, nhưng sự biểu hiện của pháp luật trong thực tiễn bao giờ cũng đa dạng hơn, phong phú hơn so với khi nó đang được chứa đựng trong các quy phạm và chế định của pháp luật. Điều đó được biểu hiện thông qua bốn khả năng mà Tòa án - cơ quan áp dụng pháp luật được phép có: Khả năng sử dụng những “cường độ” khác nhau khi áp dụng quy định của pháp luật; khả năng vận dụng các quy phạm đánh giá; khả năng áp dụng tùy nghi các quy định của pháp luật và khả năng giải thích pháp luật[1].TSKH Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, quyển 1, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội.