Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh thương mại 1. Khái niệm về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh thương mại - Thẩm quyền Mỗi một cơ quan nhà nước có một vai trò, vị trí riêng trong bộ máy nhà nước. Cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước là người thực thi công vụ được nhà nước trao quyền.
Công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội. Trách nhiệm công vụ là việc cán bộ, công chức tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó. Gắn với trách nhiệm công vụ, cán bộ công chức có những thẩm quyền nhất định để thực thi công vụ của mình. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền như: thẩm quyền bao gồm nhiệm vụ và quyền hạn hay thẩm quyền là phương tiện để các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình; hoặc cho rằng thẩm quyền bao gồm tổng thể những quyền và nghĩa vụ mang tính quyền lực do pháp luật quy định [6, tr22-26].
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Thẩm quyền” là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan nhà nước một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước [20, tr. Thẩm quyền gắn liền với quyền hạn và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ. Thẩm quyền của mỗi cơ quan nhà nước và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp Luan van 8 hành chính. Trong mỗi ngành, thẩm quyền được phân định theo chức năng, nhiệm vụ của ngành đó.
Thẩm quyền không chỉ thể hiện được sự khác biệt giữa các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức với nhau mà còn là thuộc tính tất yếu của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước. Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được xem là một khái niệm quan trọng. “Thẩm quyền” được hiểu là “quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề” [30, tr. Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm những chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ.
Trong pháp luật hiện hành của Việt Nam, thuật ngữ “thẩm quyền” thường được sử dụng trong các cụm từ như: “thẩm quyền xét xử”, “cơ quan có thẩm quyền”, “người có thẩm quyền”, “cấp có thẩm quyền”, “thẩm quyền của Toà án nhân dân”, “thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân”, thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân”. Như vậy, có thể thấy rằng, “thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước được pháp luật quy định”. - Kiểm sát viên Tại nước ta, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại nói riêng luôn được xác định là chức năng hiến định của VKSND. VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [13, Điều 107; 14, Điều 2].
Không đề cập đến chức năng thực hành quyền công tố vốn chỉ có trong các vụ án hình sự, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án Luan van 9 hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [14, khoản 1 Điều 4]. VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật; Tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự, phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp Tòa án giải quyết vụ việc khi chưa có điều luật để áp dụng; Tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm [16, Điều 21]. VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình thông qua các KSV. KSV là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp [14, Điều 74].
Nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự nói chung, kiểm sát tại phiên tòa giải quyết các vụ án KDTM nói riêng được cụ thể hóa trong các quy định của BLTTDS, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC- TANDTC ngày 31 tháng 8 năm 2016 quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của ngành kiểm sát nhân dân như Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, Quy định về hướng dẫn hoạt động của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm của VKSND tối cao. Theo các quy định nêu trên, tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án KDTM, KSV thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia hỏi để làm rõ nội dung vụ án, thực hiện các quyền yêu cầu, đề nghị, kiến nghị, đồng thời, đại diện VKS phát biểu quan điểm đối với việc giải Luan van 10 quyết nội dung vụ án. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và sự chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng là quyền năng pháp lý riêng có mà pháp luật quy định cho KSV. Đây đồng thời cũng là nghĩa vụ pháp lý của KSV.
Chỉ có KSV mới có quyền tiến hành các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM một cách trực tiếp. Cũng do địa vị pháp lý đặc biệt này, chỉ có KSV mới có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết như thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị để tác động trực tiếp vào các chủ thể tham gia phiên tòa. - Vụ án kinh doanh thương mại Trong khoa học pháp lý, “vụ án” được hiểu là một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra Tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết. Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, KDTM, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật [30, tr.
Hiểu theo nghĩa này, vụ án KDTM là các tranh chấp về KDTM được Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật. Tranh chấp KDTM là một dạng của tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng bao gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, KDTM), do vậy, để có căn cứ kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM chính xác, khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, cần nhận diện và phân biệt vụ án KDTM với các vụ án dân sự thông thường. Sự khác nhau giữa vụ án KDTM và vụ án dân sự (hiểu theo nghĩa hẹp) thể hiện ở một số điểm sau: Một là, sự khác nhau của vụ án KDTM và vụ án dân sự là sự khác nhau về nội dung tranh chấp. Vụ án KDTM hay vụ án dân sự đều bắt nguồn từ các mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ pháp luật này.
Các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân; Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản; Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự; Tranh chấp về thừa kế tài sản; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại Luan van 11 ngoài hợp đồng; Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng; Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí; Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.