Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, giai đoạn điều tra có vai trò thu thập chứng cứ nhằm chứng minh tội phạm, làm rõ hành vi của người thực hiện tội phạm và các tình tiết liên quan làm tiền đề cho hoạt động truy tố và xét xử. Hiệu quả của giai đoạn điều tra phụ thuộc trực tiếp vào việc phân định thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan điều tra trong và ngoài Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như giữa các cấp, các loại cơ quan điều tra trong nội bộ quân đội.
Theo quy định pháp luật hiện hành, thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam được xác định dựa trên thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, gồm các vụ án mà bị can là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, lực lượng dân quân tự vệ khi phối thuộc chiến đấu và các đối tượng khác phục vụ trong quân đội, cùng các tội phạm xâm phạm bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đã bộc lộ những khoảng trống và bất cập:
- Việc xác định thẩm quyền đối với một số chủ thể đặc thù còn nhiều vướng mắc, tiêu biểu như pháp nhân thương mại phạm tội, dân quân tự vệ phạm tội, hoặc các hành vi gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Tình trạng tranh chấp và xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan điều tra trong và ngoài quân đội, cũng như giữa cơ quan điều tra theo địa bàn lãnh thổ (các quân khu) và cơ quan điều tra theo ngành quản lý (quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục).
- Sự phân bổ khối lượng án không đồng đều giữa các đơn vị dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ tại một số cơ quan điều tra hoặc thiếu thực tiễn cọ xát tại các cơ quan điều tra ít vụ việc; việc chậm chuyển giao vụ án giữa các cơ quan gây ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả thu thập chứng cứ ban đầu.
- Yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi phải phân định lại thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội một cách khoa học, đồng bộ và phù hợp với đặc thù quân sự.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là hình thành khung lý thuyết về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam; trên cơ sở khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2013 - 2022 để đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Xây dựng khung lý thuyết về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam; phân tích có hệ thống các quan điểm lý luận làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật.
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội qua các thời kỳ lịch sử và kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia; rút ra các bài học kinh nghiệm.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2013 - 2022; nhận diện những hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm 7 câu hỏi:
- Các quan điểm, học thuyết về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam được sử dụng khi xây dựng quy định thẩm quyền điều tra trong Bộ luật Tố tụng hình sự như thế nào?
- Vì sao cần phải quy định thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam? Đặc điểm riêng biệt của thẩm quyền này là gì?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quy định thẩm quyền điều tra vụ án hình sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam?
- Lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế mang lại những bài học gì để hoàn thiện thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân đội trong bối cảnh cải cách tư pháp?
- Thực trạng pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam có những hạn chế, bất cập gì và nguyên nhân do đâu?
- Thực tiễn thực hiện thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2013 - 2022 có những kết quả, hạn chế và nguyên nhân nào?
- Cần xác định cơ sở, định hướng và nhóm giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam?
Các giả thuyết nghiên cứu tương ứng:
- Giả thuyết 1: Nhận thức lý luận về tính tất yếu, cơ sở và các yếu tố tác động đến thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong quân đội hiện chưa đầy đủ; việc làm rõ khung lý thuyết sẽ tạo luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật.
- Giả thuyết 2: Khách thể quan trọng nhất mà thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân đội bảo vệ là kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; tính chất hoạt động quân sự quy định các đặc điểm riêng biệt của thẩm quyền này.
- Giả thuyết 3: Pháp luật hiện hành còn tồn tại khoảng trống và thiếu tương thích với hệ thống pháp luật quân sự, quốc phòng, dẫn đến vướng mắc trong phân định thẩm quyền và tổ chức bộ máy.
- Giả thuyết 4: Việc kết hợp đồng bộ giữa sửa đổi quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự với việc kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực điều tra viên sẽ giải quyết được những bất cập trong thực tiễn áp dụng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các học thuyết, quan điểm khoa học pháp lý về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra trong quân đội; các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định này.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Hệ thống các Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam (gồm Cơ quan An ninh điều tra, Cơ quan Điều tra hình sự và Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát quân sự trung ương) và pháp luật một số quốc gia có mô hình quân đội tương đồng hoặc quân đội hiện đại.
- Thời gian thực tiễn: Giai đoạn 10 năm từ năm 2013 đến năm 2022.
- Giới hạn nội dung loại trừ: Luận án không nghiên cứu thẩm quyền của người tiến hành tố tụng cụ thể; không nghiên cứu thẩm quyền của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; không nghiên cứu phương pháp, chiến thuật và kỹ thuật nghiệp vụ điều tra.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu luật học quốc tế theo các nhóm nội dung:
- Nhóm nghiên cứu về Luật Hình sự quốc tế và thẩm quyền tài phán: Ilias Bantekas và Susan Nash (2001), International Criminal Law; M. Cherif Bassiouni (2003), The Introduction to the International Criminal Law; Antonio Cassese (2003), International Criminal Law; Kahn và Richard (2002); Sterling Paust, Leila Sadat và M. Cherif Bassiouni (2000). Các công trình này phân tích mối quan hệ giữa thẩm quyền quốc tế và thẩm quyền quốc gia, điều kiện thụ lý và phân định thẩm quyền bổ sung.
- Nhóm nghiên cứu về mục đích và vai trò của cơ quan điều tra quân sự: Mindia Vashakmadze (2009, 2010) với các tài liệu do DCAF công bố (Understanding Military Justice: A Practice Note và Guidebook Understanding Military Justice), phân tích sự khác biệt giữa hệ thống Anglo-Saxon và Châu Âu lục địa về vai trò của người chỉ huy trong điều tra quân sự và việc bảo vệ kỷ luật quân đội; Dennis P. Chapman (2011), Task Force Raptor: Failure of Military Justice; Richard Tracey (2005), The Constitution and Military Justice; Schlueter (2013), The Military Justice Conundrum: Justice or Discipline; Kent Roach (2018) và Jonathan Avey (2018) về tính độc lập của cảnh sát và kỷ luật quân đội trong lực lượng vũ trang Canada.
- Nhóm nghiên cứu về tổ chức hoạt động điều tra quân sự: Xoloview Ivan Mikhailovich (2007) nghiên cứu về hoạt động điều tra ban đầu trong lực lượng vũ trang Liên bang Nga; ZhengZhi Zhidu (2012) nghiên cứu về hoạt động điều tra ban đầu của Cơ quan bảo vệ Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; Rodney L. (2012) về quy trình xử lý thông tin tội phạm của Cơ quan điều tra Lục quân Hoa Kỳ; Báo cáo của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Quốc phòng và Thương mại Australia (2006) và bài viết của Andrew Mitchell, Tania Voon (2005) về hệ thống tư pháp quân sự Australia.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Giáo trình và lý luận chung về tố tụng hình sự: Giáo trình của GS.TS Võ Khánh Vinh (2003) về các cơ quan bảo vệ pháp luật; các giáo trình của TS. Phạm Mạnh Hùng (Đại học Kiểm sát Hà Nội), PGS. Khổng Văn Hà (Học viện Cảnh sát nhân dân), PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn (Trường Đại học Luật Hà Nội), PGS. Nguyễn Ngọc Chí và TS. Lê Lan Chi (Khoa Luật - ĐHQGHN).
- Các luận án tiến sĩ và công trình chuyên khảo: Nguyễn Văn Huyên về thẩm quyền của Tòa án; Chu Thị Trang Vân về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự; Đoàn Tạ Cửu Long về hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra; Đào Anh Tới về quan hệ giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát; Ngũ Hồng Quang về so sánh trình tự điều tra Việt Nam - Trung Quốc; Nguyễn Thị Thủy về mô hình tố tụng; Phạm Thái về khởi tố vụ án; Lê Văn Thành về giải quyết tố giác, tin báo tội phạm.
- Các nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quân sự: Công trình của Nguyễn Mai Bộ (2011) về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm quân nhân và mô hình tổ chức cơ quan tư pháp quân đội; các Đề án và Báo cáo của Quân ủy Trung ương (2012, 2013, 2014) về đổi mới tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp trong quân đội; luận án của Trương Đức Thuận (2020) và luận văn của Lê Văn Hai (2017) về thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tố tụng hình sự và các cơ quan tư pháp quân sự, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ khái quát quy định pháp luật hoặc gắn liền với thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Chưa có công trình chuyên khảo độc lập nào xây dựng một khung lý thuyết hoàn chỉnh, phân tích chuyên sâu tính tất yếu khách quan, làm rõ bản chất và đặc trưng riêng biệt của thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như giải quyết toàn diện các xung đột thẩm quyền phát sinh từ thực tiễn giai đoạn 2013 - 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết về quyền lực tư pháp và chức năng điều tra trong tố tụng hình sự: Hoạt động điều tra là một giai đoạn tố tụng độc lập thuộc nhánh quyền lực hành pháp nhằm thực hiện chức năng chứng minh tội phạm và người phạm tội, tạo tiền đề cho việc truy tố và xét xử.
- Lý thuyết về thẩm quyền tố tụng: Thẩm quyền điều tra được xác định trên các căn cứ: loại tội phạm, tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đối tượng thực hiện tội phạm và địa giới hành chính - lãnh thổ.
- Quan điểm lý luận về tư pháp quân sự: Thẩm quyền điều tra trong quân đội gắn liền với thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; khách thể bảo vệ trực tiếp và cao nhất là kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để hệ thống hóa các quan điểm học thuật trong và ngoài nước, làm rõ nội hàm khái niệm thẩm quyền điều tra quân sự và xây dựng các giải pháp hoàn thiện.
- Phương pháp logic - lịch sử: Sử dụng để rà soát quá trình phát triển của các quy định pháp luật về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân đội qua các thời kỳ lập pháp (từ Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, 2003 đến 2015).
- Phương pháp thống kê và nghiên cứu điển hình: Sử dụng để xử lý số liệu thực tiễn công tác thụ lý, phân loại tội phạm, phân loại bị can và tranh chấp thẩm quyền trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2013 - 2022.
- Phương pháp so sánh luật học: Khảo cứu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Anh, Mỹ, Australia), Dân luật (Pháp, Canada, Phần Lan) và các nước như Nga, Trung Quốc về tổ chức và thẩm quyền điều tra quân sự.
- Phương pháp hệ thống: Xem xét thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng và các quy định pháp luật quân sự, quốc phòng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật: Bộ luật Tố tụng hình sự các năm 1988, 2003, 2015; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; các văn bản quy phạm pháp luật về quân sự, quốc phòng.
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác điều tra, số liệu thống kê tư pháp của Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Cục Điều tra hình sự và Cục Bảo vệ An ninh Quân đội từ năm 2013 đến năm 2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ nền tảng duy trì kỷ luật quân đội như một mục đích cốt lõi của thẩm quyền điều tra quân sự, đồng thời phân tích các mô hình phân nhiệm giữa điều tra viên dân sự và quân sự.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chưa tạo lập được một khung lý thuyết riêng biệt và toàn diện cho thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở đó, chương này xác lập 7 câu hỏi nghiên cứu và 4 luận điểm giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam với các nội dung trọng tâm:
- Khái niệm và chức năng: Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội là tổng hợp các quyền hạn và trách nhiệm pháp lý do luật định để tiến hành các hoạt động xác minh nguồn tin, khởi tố và điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Cơ quan điều tra quân đội thực hiện hai chức năng: chức năng điều tra tố tụng hình sự và chức năng tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy các cấp về đấu tranh phòng chống vi phạm, tội phạm.
- Quyền hạn, trách nhiệm và phạm vi: Cơ quan điều tra quân đội có trách nhiệm áp dụng các biện pháp tố tụng để chứng minh sự thật khách quan, xác định tội phạm và người phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố hoặc đình chỉ vụ án; làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội và kiến nghị biện pháp khắc phục.
- Đặc điểm riêng biệt: Thẩm quyền điều tra quân sự mang tính chuyên biệt cao, gắn liền với tổ chức và tính chất hoạt động quân sự bí mật, khép kín; chịu sự chỉ huy trực tiếp của người chỉ huy đơn vị quân đội nhưng vẫn phải tuân thủ tính độc lập theo quy định của pháp luật tố tụng; đối tượng bị điều tra chủ yếu là quân nhân hoặc các chủ thể có quan hệ pháp luật quân sự.
- Cơ sở và căn cứ quy định: Xác định thẩm quyền dựa trên sự kết hợp của 4 yếu tố: tính chất tội phạm (tội phạm quân sự, xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm hoạt động tư pháp), đối tượng phạm tội (quân nhân, công nhân viên quốc phòng, người phối thuộc), địa bàn nơi xảy ra tội phạm (khu vực quân sự, doanh trại) và mức độ thiệt hại đối với uy tín, tài sản của quân đội.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Quân đội; tình hình diễn biến của tội phạm; trình độ chuyên môn của đội ngũ điều tra viên; nhận thức pháp lý của người chỉ huy; và các yêu cầu từ tiến trình cải cách tư pháp.
Chương 3: Pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam và một số nước trên thế giới, thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng văn bản quy phạm pháp luật, kinh nghiệm quốc tế và khảo sát thực tiễn 10 năm thi hành (2013 - 2022):
- Pháp luật thực định: Thẩm quyền điều tra được phân định giữa 3 hệ thống cơ quan điều tra trong Quân đội:
- Cơ quan An ninh điều tra: Điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm khác theo luật định.
- Cơ quan Điều tra của Viện Kiểm sát quân sự trung ương: Điều tra tội xâm phạm hoạt động tư pháp và tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp trong quân đội.
- Cơ quan Điều tra hình sự: Điều tra các tội phạm còn lại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, được phân cấp thành cấp Bộ Quốc phòng, cấp quân khu và khu vực.
- Kinh nghiệm quốc tế: Đánh giá mô hình của các nước không duy trì cơ quan điều tra quân sự thường trực trong thời bình (như Đức, Séc, Belarus) và các nước duy trì hệ thống điều tra quân sự độc lập (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Australia), rút ra bài học về bảo đảm tính độc lập của điều tra viên đối với mệnh lệnh chỉ huy hành chính.
- Thực tiễn áp dụng (2013 - 2022): Phân tích hệ thống số liệu tổ chức bộ máy, cán bộ và kết quả giải quyết án. Dưới đây là danh mục tổng hợp các bảng biểu thống kê thực tiễn được luận án thu thập:
| Ký hiệu bảng / biểu | Tên bảng biểu, sơ đồ thực tiễn trong luận án | Vị trí trong luận án |
|---|---|---|
| Bảng 3.1 | Số lượng Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam | Trang 107 |
| Bảng 3.2 | Số liệu cán bộ các Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam | Trang 109 |
| Bảng 3.3 | Tình hình thụ lý nguồn tin về tội phạm của các CQĐT theo phân cấp | Phụ lục I |
| Bảng 3.4 | Kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm của các CQĐT trong QĐNDVN | Phụ lục I |
| Bảng 3.5 | Tình hình thụ lý điều tra vụ án hình sự theo loại và phân cấp CQĐT | Phụ lục I |
| Bảng 3.6 | Tình hình thụ lý các vụ án hình sự theo phân loại tội phạm | Phụ lục I |
| Bảng 3.7 | Phân loại bị can trong các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền điều tra | Phụ lục I |
| Bảng 3.8 | Phân loại bị can là đối tượng do Quân đội quản lý | Phụ lục I |
| Bảng 3.9 | Tình hình chuyển giao, tiếp nhận vụ án hình sự giữa CQĐT trong và ngoài quân đội | Phụ lục I |
| Bảng 3.10 | Kết quả điều tra vụ án hình sự của CQĐT quân đội (2013 - 2022) | Phụ lục I |
| Biểu đồ 3.1 - 3.3 | Tỷ lệ thụ lý nguồn tin; Tỷ lệ phân loại bị can; Tỷ lệ giải quyết VAHS | Trang 111, 113, 114 |
| Phụ lục V | Tổng hợp một số vụ án xảy ra tranh chấp về thẩm quyền điều tra | Phụ lục V |
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Bất cập quy định: Thiếu quy định chi tiết về thẩm quyền điều tra đối với pháp nhân thương mại phạm tội; chưa có tiêu chí định lượng cụ thể về hành vi "gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Quân đội"; quy định về thẩm quyền đối với dân quân tự vệ còn chồng chéo.
- Hạn chế tổ chức: Mô hình tổ chức đan xen giữa địa bàn lãnh thổ (quân khu) và quản lý ngành (quân đoàn, quân chủng, binh chủng) dẫn đến xung đột thẩm quyền thụ lý khi tội phạm xảy ra trên địa bàn quân khu nhưng do đối tượng thuộc đơn vị ngành quản lý thực hiện.
- Công tác bảo đảm: Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hình sự ở một số đơn vị khu vực còn thiếu thốn; sự phối hợp chuyển giao vụ việc giữa cơ quan công an và cơ quan điều tra quân đội đôi lúc còn chậm trễ.
Chương 4: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Chương 4 đưa ra các quan điểm định hướng và nhóm giải pháp thực thi:
- Định hướng hoàn thiện: Bám sát đường lối của Đảng về cải cách tư pháp (Nghị quyết số 27-NQ/TW); bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; xây dựng hệ thống cơ quan điều tra quân đội tinh gọn, hiệu lực, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự nhằm quy định rõ thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân đội đối với pháp nhân thương mại có liên quan đến quân đội, hành vi phạm tội của dân quân tự vệ trong từng trạng thái sẵn sàng chiến đấu, và định lượng rõ các thiệt hại phi vật chất đối với quân đội.
- Kiện toàn mô hình tổ chức: Sắp xếp lại hệ thống Cơ quan Điều tra hình sự khu vực theo hướng tổ chức liên vùng hoặc phân định rành mạch giữa thẩm quyền lãnh thổ quân khu và thẩm quyền quản lý đơn vị quân chủng/binh chủng.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
- Xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch/Thông tư quy định chi tiết trình tự, thủ tục phát hiện, tiếp nhận, phân loại, chuyển giao và giải quyết nguồn tin về tội phạm trong Quân đội.
- Tăng cường cơ chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra quân đội với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an và Viện kiểm sát các cấp.
- Chuẩn hóa, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ điều tra viên quân đội; bảo đảm nguồn lực trang thiết bị khoa học hình sự.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học lý luận
- Xây dựng có hệ thống khung lý thuyết về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam, làm rõ khái niệm, đặc điểm, cơ sở và các yếu tố tác động.
- Luận giải cơ sở khoa học khẳng định tính tất yếu của việc tổ chức cơ quan điều tra quân sự độc lập nhằm trực tiếp bảo vệ khách thể kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Khái quát và đánh giá bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra