CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU NGÀNH CÀ PHÊ 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu và vị trí của quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu Bài nghiên cứu “Measuring Global Value Chains” của tác giả Robert C. Theo tác giả, các công đoạn sản xuất hàng hóa riêng lẻ được chia nhỏ và phân tán ở các quốc gia.
Cách tiếp cận vĩ mô để đo lường GVC kết nối đầu vào – đầu ra của các quốc gia bằng cách sữ dụng dữ liệu thương mại để xây dựng các bảng đầu vào – đầu ra toàn cầu. Trong bài nghiên cứu “Global Value Chain Analysis : A primer” của tác giả Gary Gereffi & Karina Fernandez – Stark (2016) đã cung cấp cho người đọc nền tảng để có thể hiểu rõ hơn và sử dụng khung GVC như một công cụ để phân tích các tác nhân liên qua đến doanh nghiệp, cộng đồng và người lao động được liên kết và bị ảnh hưởng như thế nào bởi những chuyển đổi lớn trong nền kinh tế toàn cầu. Đối với những nghiên cứu nước ngoài, những nghiên cứu từ những năm 2000 đưa ra khái niệm về GVC chú trọng đến yếu tố giá trị gia tăng (VA) trong thương mại. Hummels, Ishii và Yi (2001) đã đề cập đến GVC về mặt tích hợp theo chiều dọc của các quy trình sản xuất, trong đó phân tích “VA trong thương mại được hiểu là giá trị hàng hoá trung gian nhập khẩu có trong hàng hoá xuất khẩu quốc gia”.
Trong các nghiên cứu gần đây, Koopman et al. (2010) vẫn dựa trên nền tảng về GVC bao gồm hàm lượng nhập khẩu trong xuất khẩu nhưng bổ sung thêm phần giá trị gia tăng nội địa, chính là phần đầu vào trung gian được sử dụng ở quốc gia thứ ba để xuất khẩu tiếp. Dựa trên quan điểm này, các nghiên cứu đều tuân thủ theo mô hình đầu vào – đầu ra, phân tách thương mại GVC thành các mối liên kết ngược 6 (giá trị gia tăng nước ngoài xuất khẩu bởi các nhà sản xuất trong nước) và liên kết xuôi (giá trị gia tăng trong nước nằm ở xuất khẩu của các nước khác). Một xu hướng gần đây là xem các mối liên kết này là các thành phần sản xuất hơn là các khái niệm thương mại, với mục tiêu phân bổ chính xác VA trong GVC cho nền kinh tế nơi giá trị đó được thêm vào.
Theo Koopman, Wan và Wei (2014), các nghiên cứu xem xét cẩn thận chỉ VA nhập khẩu hoặc xuất khẩu, để tránh tính hai lần. Với các ngành sản xuất công nghiệp, việc tham gia vào GVC mang lại nhiều lợi ích nhiều hơn là bất lợi cho các thành viên trong chuỗi thì điều này ngược lại với các GVC đối với lĩnh vực nông nghiệp nói chung. Đặc trưng của ngành nông nghiệp là sự tham gia của các doanh nghiệp SMEs, các hộ nông dân hoặc công ty địa phương có quy mô nhỏ. Họ chỉ tiến hành trồng trọt, chế biến sản phẩm thô và kỹ năng cũng như công nghệ chưa được chuyên sâu.
Doanh thu được tạo ra chủ yếu từ việc xuất khẩu, bán nguyên liệu ( giá trị gia tăng thấp) còn phần thu cao hơn từ các công đoạn như xây dựng thương hiệu, bán hàng, dịch vụ được thực hiện bới các nhà bán lẻ. Tự do hóa thương mại đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển của GVC nông nghiệp nói chung và cà phê nói riêng, nhưng đồng thời cũng gây áp lực lớn tới những hộ nông dân nhỏ lẻ và tiểu thương khi năng lực sản xuất nội địa chưa thực sự tốt (Wang & Brown, 2012). Quan điểm này cũng cho rằng, thực tế những người sản xuất là người hưởng lợi ít nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong nghiên cứu “Chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia : Những tiếp cận thực tiện từ Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Việt Khôi (2013) đã chỉ ra việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các TNCs có thể giúp các doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc tăng giá trị gia tăng nhiều hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Các nghiên cứu về sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu Những nỗ lực nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng tham gia vào GVC của các doanh nghiệp ở mỗi quốc gia rất đa dạng. Những hoạt động chính, đòi hỏi kiến thức và kỹ năng, công nghệ cao thường được thực hiện bởi các doanh nghiệp lớn, MNCs ở các quốc gia phát triển, trong khi đó những doan3h nghiệp vừa và nhỏ SMEs 7 thường đảm nhiệm những khâu bổ trợ, không đòi hỏi cao về công nghệ, nguồn lực (Virgina & Torben, 2016). Điều này dẫn đến sự đóng góp khác nhau về giá trị gia tăng của các công ty này. Stan Shih (1992), nhà sáng lập của Acer là người khám phá ra Đường cong nụ cười để minh họa cho chuỗi giá trị tăng thêm mà doanh nghiệp nhận được khi tham gia vào các công đoạn khác nhau trong chuỗi giá trị của hãng.
Trước thực tế ngày càng có nhiều nhà cung cấp nội địa có thể cải thiện năng lực của mình và tiến lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, thì việc “ nâng cấp – upgrading” trở thành một phần quan trọng trong các nghiên cứu về chuỗi giá trí toàn cầu. Trên cơ sở kế thừa, Mudambi (2008) đã tiếp tục phát triển mô hình đường cong nụ cười để làm rõ hơn việc các quốc gia đang phát triển tiến lên các công đoạn cao hơn trong chuỗi GVC. Theo Gualani, Pietrobelli, Rabellotti (2015) chỉ ra 4 kiểu nâng cấp trong GVC như sau: (1) Nâng cấp quy trình sản xuất, (2) Nâng cấp sản phẩm, (3) Nâng cấp chức năng, (4) Nâng cấp chuỗi liên kết. Theo nhóm tác giả trên, doanh nghiệp cần nâng cấp quy trình và sản phẩm trước khi nâng cấp chức năng và chuỗi liên kết.
Ngoài ra, Humphrey & Schmitz (2004) cũng khẳng định, nâng cấp là điều quan trọng và cần thiết đối với doanh nghiệp vì thị trường hàng hóa ngày càng trở nên cạnh tranh hơn. Do vậy, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp tại các quốc gia phải thay đổi và nâng cấp để duy trì vị thế sẵn có của mình và tiến lên vị trí cao hơn. Nếu không nâng cấp, doanh nghiệp có thể đánh mất vị trí của mình và dễ bị thay thế bới các đối thủ cạnh tranh từ các quốc gia có lợi thế so sánh và chi phí sản xuất thấp hơn. Các nghiên cứu của các tổ chức thế giới như UNCTAD-OECD, APEC, ADBI liên quan đến doanh nghiệp trong GVC cũng cho thấy nhiều doanh nghiệp ở các quốc gia tham gia vào nền kinh tế toàn cầu mà không cần phải phát triển một chuỗi giá trị hoàn chỉnh (OECD, 2014).
Việc chia nhỏ quá trình sản xuất đã tạo điều kiện và cơ hội cho các SMEs ở các nước đang phát triển có thể tiếp cận thị trường toàn cầu với vai trò là người cung cấp linh kiện hoặc dịch vụ. Về cơ bản, doanh nghiệp có thể giam gia vào GVC thông qua hai hình thức như sau : (1) Xuất khẩu trực tiếp : bán hàng hóa trung gian cho đối tác nước ngoài 8 hoặc (2) Xuất khẩu gián tiếp bằng cách bán hàng hóa trung gian cho các doanh nghiệp lớn trong nước hoặc các MNCs (González,2017). Các nghiên cứu về vị trí chuỗi giá trị toàn cầu và lợi thế của ngành cà phê Trong nghiên cứu “Upgrading and the value chain Analysis : The case of small- scale coffee farmers in Honduras” của Ingrid Fromm and Juan A. Dubon (2006) đã phân tích tại sao các hộ dân trồng cà phê quy mô nhỏ ở Honduras có thể tham gia vào chuỗi giá trị cà phê.
Nguyên do các hộ nông dân đều cam kết nâng cao chất lượng sản xuất về cả sản phẩm và kĩ thuật. Họ kiểm soát quy trình sản xuất bằng cách kiểm soát độ ẩm của hạt cà phê và công tác sau thu hoặc để đạt được kết quả tốt hơn. Những chủ thể tham gia trong quy trình sản xuất cà phê tại đây đều biết rằng những quy chuẩn, tiêu chuẩn với mỗi thị trường tiêu thụ là khác nhau nên không thể áp dụng tiêu chuẩn chung cho tất cả thị trường. Gilbert (2006) với nghiên cứu “Value chain analysis and market power in commodity processing with application to the cocoa and coffee sectors” đã phân tích chuỗi giá trị và tập trung chủ yếu trong khâu chế biến đối với ngành cà phê và ca cao để từ đó đưa ra các giải pháp cho những nước trồng hai mặt hàng này.
Theo ông, mặc dù những nước cung cấp nhiều hai mặt hàng này nhưng thực tế lại thu được ít lợi nhuận nhất trong chuỗi giá trị. Nhóm tác giả từ Đại học Duke gồm Jack Daly et al. (2018) với nghiên cứu “Jamaica in the Arabica Coffee Global Value Chain” xem xét vị trí của Jamaica trong ngành cà phê toàn cầu và chỉ ra cơ hội cho doanh nghiệp địa phương để cải thiện vị trí của họ trong chuỗi giá trị toàn cầu. Mặc dù Jamaica có khối lượng sản xuất thấp nhưng cà phê Jamaica Blue Mountain có lịch sử nổi tiếng trên thế giới với hương vị thơm ngon đặc trưng và có giá trị cao trong xuất khẩu so với các quốc gia khác.
Trong nghiên cứu “Chuyên đề lồng ghép mới tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện thực thi các cam kết WTO : trường hợp ngành nông sản Việt Nam” của tác giả Bùi Đức Tuân (2012) đã chỉ ra rằng chuỗi giá trị nông sản toàn cầu bao gồm nhiều công đoạn và có sự tham gia của nhiều chủ thế khác nhau. Trong nghiên cứu của tác giả cũng đã nêu rõ chuỗi giá trị cà phê toàn cầu từ khâu 9 thu hoạch, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu, đến tay người bán buôn, người bán lẻ và cuối cùng là người tiêu dùng. Theo nghiên cứu, Việt Nam mặc dù là nước xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới nhưng chưa tham gia sâu vào hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm. Vì vậy, cà phê Việt Nam không thu được nhiều giá trị gia tăng so với các nước khác trên thế giới.
Bài nghiên cứu có đề cập đến các giải pháp để thâm nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng chỉ đề cập đến giải pháp chung cho ngành nông nghiệp, chưa đưa ra giải pháp riêng cho ngành cà phê. Luận án tiến sĩ kinh tế quốc tế “Chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng chè và sự tham gia của Việt Nam”, tác giả Tô Linh Hương (2017) những nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị và nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của Việt Nam trong ngành hàng chè.