CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Nhu cầu Theo Wikipedia thì: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.” Nhu cầu được xem như một vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao động lực cho con người hoạt động, khi con người nảy sinh những mong muốn thiết yếu và cấp bách thì nó sẽ chi phối con người. Trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã xuất hiện rất nhiều những nghiên cứu về nhu cầu, đặt biệt là những khía cạnh về kinh tế - xã hội, nghiên cứu điển hình và mang lại nhiều giá trị nhất như của tác giả Benfild, Edward S. Herman… Nhu cầu của con người sẽ được thể hiện ra thành những đối tượng nhất định.
Nó chính là những thứ có thể đáp ứng được nhu cầu con người từ cơ bản đến phức tạp nhất (từ nhu cầu cá nhân đến nhu cầu xã hội), những đối tượng mà nhu cầu hướng đến có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào sự vô hạn của nhu cầu. Những đối tượng tạo nên tính vô hạn của nhu cầu được nhà nghiên cứu Alfred Marshall thể hiện rằng: "Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn". Con người đòi hỏi những nhu cầu một cách vô hạn, họ mong muốn luôn có được những nhu cầu từ cơ bản nhất đến cả chưa cần thiết, những nhu cầu ấy được phân chia thành nhu cầu về vật chất và cả về tinh thần. Một khi những đòi hỏi con người được đáp ứng họ sẽ cảm giác được hưng phấn và có nhiều động lực hơn để cố gắng thực hiện tốt các công việc, những mong muốn ấy cũng nên được giới hạn trong một mức độ nhất định vì nhu cầu con người là vô tận, đến một chừng mực nào đó thì nhu cầu con người sẽ biến thành lòng tham và nảy sinh những vấn đề không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 mong muốn.
Vì vậy, việc tạo nhu cầu cho con người và kiểm soát những nhu cầu ấy là hết sức cần thiết trong xã hội, nhất là trong công tác nhân sự. Tại tổ chức, thỏa mãn nhu cầu cho con người (nhân viên – người lao động) là một nhiệm vụ cần thiết mà mọi nhà lãnh đạo đều quan tâm, nó sẽ tạo ra động lực để con người trong tổ chức làm việc tốt hơn và có sự cống hiến nhiều hơn. Do đó khi nhà lãnh đạo nắm rõ được mong muốn của tổ chức cần xây dựng cho nhân viên thì việc nâng cao động cơ làm việc sẽ hết sức cần thiết.2 Động lực “Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện thuận lợi và nó tạo ra kết quả cao” (Trích từ “từ điển kinh tế xã hội Việt Nam”). Tác giả Lawler (1973): “động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân”.
Tác giả Bedeian (1993) cho rằng: “động lực của con người sẽ luôn luôn là những phấn đấu và cố gắng của họ để hoàn thành được kế hoạch và mục tiêu mà con người đặt ra”. Higgins (1994) cho rằng động lực con người được sản sinh ra nhờ vào lực đẩy của bản thân họ, từ bên trong họ để có thể đáp ứng những mong muốn mà con người đó vẫn còn cảm thấy bị thiếu và chưa được đáp ứng. Kreitner, Kinicki (2004) thì thể hiện quan điểm động lực chứa đựng tâm lý các quá trình gây ra sự kích thích, định hướng và tồn tại của các hành động tự nguyện được định hướng theo mục tiêu. Ganta Vinay Chaitanya (2014) cho rằng: “Động lực là kết quả của sự tương tác cả hai yếu tố ý thức và vô thức như cường độ của mong muốn hoặc nhu cầu, khuyến khích hoặc giá trị khen thưởng của mục tiêu và kỳ vọng của cá nhân và của mọi người xung quanh”.
Với các yếu tố của con người xuất phát từ bên trong họ và bên ngoài là môi trường xung quanh sẽ giúp kích thích lòng ham muốn của con người và làm xuất hiện những năng lượng ở họ để quan tâm đến công việc và những cam kết cho công việc mà con người phụ trách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Đối với một người làm việc ở bất kỳ ngành nghề hay lĩnh vực nào thì họ đều mong muốn và cần đến động lực để họ cảm thấy những điều tốt đẹp về công việc đang làm, từ đó giúp họ đạt được hiệu quả công việc. Trong số những người làm việc có thể có người thích thú được thúc đẩy về tài chính nhưng cũng có người sẽ tìm thấy động lực để cống hiến từ những sự khen thưởng – công nhận…Chính động lực sẽ giúp nhân viên trong tổ chức hoàn thành được nhiệm vụ mà tổ chức đưa ra: Tầm quan trọng đối với sự thịnh vượng của các tổ chức luôn nhấn mạnh hành vi tạo động lực cá nhân (Lawler -1973) Động lực quan tâm đến những tâm lý các quá trình gây ra sự kích thích, hướng vào sự kiên trì của hành vi nghiêm trọng (Ilgen và Klein, 1988). Nó được thiết lập dựa vào những kích thích có tác động đến hành vi nhân viên của tổ chức một cách trực hoặc gián tiếp như môi trường trong công việc tại cty, thu nhập, đồng nghiệp, chế độ đãi ngộ…Động lực để nhân viên làm việc là yếu tố có ý nghĩa góp phần tạo ra sự nhiệt tình và những cống hiến của nhân viên, nên việc tạo động lực cho nhân viên trong tổ chức là điều quan trọng mà bất kỳ tổ chức nào cũng phải quan tâm.3 Tạo động lực cho nhân viên Tạo động lực cho nhân viên trong tổ chức, cty là một vấn đề trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp.
Đối với những nhà quản lý để tổ chức mình có thể phát triển thì con người là nhân tố hàng đầu nên nhà quản trị phải luôn luôn sử dụng các giải pháp để khuyến khích nhân viên để họ hăng say làm việc, cống hiến cho tổ chức một cách tích cực và phát huy hết những năng lực sáng tạo trong quá trình làm việc, đây chính là hoạt động tạo động lực cho nhân viên trong cty. Xây dựng được hệ thống nâng cao động lực cho nhân viên trong cty là bao gồm nhiều giải pháp mà bất kỳ một nhà quản trị nào phải làm đối với cty của họ để tạo động cơ làm việc cho nhân viên của mình. Ví dụ phân tích tổng hợp của Stajkovic và Luthans (2003) cho thấy hành vi tổ chức can thiệp bằng cách sử dụng các giải pháp nâng cao động cơ làm việc như ưu đãi tiền tệ cải thiện hiệu suất nhân viên lên 23%, trong khi một động lực với sự thừa nhận của xã hội đã làm như vậy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 chỉ bằng 17%. Hơn nữa, bằng cách kết hợp cả hai loại sẽ thúc đẩy được động cơ làm việc cho nhân viên trong tổ chức đó cải thiện lên 45% so với chỉ 23% và 17% khi chưa kết hợp.
Các nghiên cứu đã cho thấy rằng tạo động lực cho nhân viên, nhà quản lý doanh nghiệp phải quan tâm đến nhiều vấn đề ở bên trong lẫn ở ngoài của nhân viên tác động đến động cơ làm việc của họ và từ đó thúc đẩy họ làm việc. Theo nghiên cứu của nhóm tác giả James L.Perry - Indiana University, Debra Mesch - Purdue University & Indianapolis; Laurie Paarlberg - San Francisco State University (2006) về tạo động lực cho nhân viên trong kỷ nguyên mới thì nhà quản lý phải hoàn chỉnh và có phương hướng rõ ràng cho một hệ thống các chương trình nâng cao động lực trên cơ sở: khuyến khích tài chính, thiết kế công việc, sự tham gia, thiết lập mục tiêu. Với nghiên cứu về động cơ làm việc của nhân viên (Roderic Gray, 2000) thì liệt kê 14 yếu tố mà người lãnh đạo trong cty cần phải tạo động lực cho người lao động bao gồm: “sự công nhận, thành tích, khả năng của sự phát triển, sự tiến bộ, lương, quan hệ cá nhân, hấp dẫn công việc, các vấn đề trong cuộc sống, bảo vệ việc làm…” Những nghiên cứu trước đây đã khẳng định tạo động lực cho nhân viên trong doanh nghiệp đã được quan tâm từ rất lâu trong công tác nghiên cứu về con người trong tổ chức, được xem là cơ sở hữu ích trong công tác quản trị con người trong cty. Nếu tổ chức - cty có thể phân tích rõ những nhân tố góp phần tạo động lực cho nhân viên thì sẽ giúp tổ chức hoạt động và phát triển ngày càng tốt hơn.2 Các học thuyết liên quan đến động lực làm việc Khi tiến hành nghiên cứu về động lực làm việc cho nhân viên trong tổ chức doanh nghiệp thì người nghiên cứu phải tìm ra giải pháp để có thể giúp nhân viên được đáp ứng nhu cầu về nhiều phương diện.
Những yếu tố đáp ứng nhu cầu này có thể được tìm thấy trong những lý thuyết về sự động viên và thỏa mãn công việc cho nhân viên của nhiều nhà nghiên cứu sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Học thuyết nhu cầu của Maslow Học thuyết này do nhà tâm lý người Mỹ là Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation, ông cho rằng: “mỗi người lao động đều có 5 nhu cầu được phân thành 5 tầng từ thấp tới cao là nhu cầu thể lý, nhu cầu được đảm bảo an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu được tôn trọng từ người khác và nhu cầu thể hiện bản thân”. Theo Maslow, mỗi con người đều có những nhu cầu khác nhau nhưng chung quy chúng chỉ được hiện trên 2 nhóm: nhu cầu cấp thấp bao gồm nhu cầu thể lý và nhu cầu được an toàn, nhu cầu cấp cao là những nhu cầu về xã hội, được tôn trọng từ người khác và thể hiện bản thân. Những nhu cầu cấp thấp là nhu cầu cơ bản và không thể thiếu được của mỗi người lao động như mong muốn đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi thư giãn…và những nhu cầu này sẽ được ưu tiên được thỏa mãn và đáp ứng trước khi xuất hiện những nhu cầu bậc cao chủ yếu về tinh thần như sự công bằng, được tôn trọng, địa vị xã hội…Khi những nhu cầu này xuất hiện trong mỗi con người nó sẽ là động lực để thúc đẩy con người làm việc hăng say hơn và nổ lực nhiều hơn.1 Mô hình 5 bậc nhu cầu của lý thuyết Maslow LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.