Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức. Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc tại Cục Hải quan Gia Lai ~ Kon Tum. Chương 3: Hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho cán bộ nhân viên tại Cục Hải quan Gia Lai — Kon Tum. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC LAM VIEC CHO NHAN VIEN 1.
KHAI NIEM VA VAI TRO CONG TAC TAO DONG LUC LAM VIEC CHO NHAN VIEN 1. Một số khái niệm cơ bản a. Công chức Công chức là những người làm trong cơ quan Nhà nước, bao gồm: công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; công chức làm nhiệm vụ chuyên môn và nhân viên hợp đồng. b, Động lực Tổ chức là tập hợp của hai hay nhiều người, cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định để đạt được mục tiêu chung.
Để đạt mục tiêu chung của tô chức đòi hỏi sự có gắng, nỗ lực của tắt cả các thành viên trong tổ chức. Tuy nhiên, trong một tô chức, bên cạnh những người làm việc hãng say, nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao thì luôn tồn tại những cá nhân làm việc trong trạng thái uễ oải, thiếu hứng thú trong lao động, thờ ơ với công. việc, thậm chí bỏ việc, kết quả thực hiện công việc rất thấp. Điều này do động, lực làm việc của mỗi cá nhân quyết định.
Động lực làm việc thường gắn liền với kết quả thực hiện công việc, nó giải thích lý do cho các hoạt động của con người. Động lực làm việc càng lớn thì kết quả thực hiện công việc càng cao và ngược lại. Chính vì vậy, đối với các tô chức sử dụng nhân lực, để đạt được mục tiêu của mình với kết quả và hiệu quả cao thì cần phải thực hiện tốt công. tác tạo động lực.
Vậy động lực làm việc là gì? Theo Maier và Lawler (1973), “động lực là sự khao khát tự nguyện của mỗi cá nhân”. Theo khái niệm này, động lực gắn liền với mỗi cá nhân cụ thể, thể hiện sự khao khát và tự nguyện của các cá nhân trong quá trình thực hiện công việc. Khao khát, tự nguyện càng lớn thì động lực càng cao và ngược lại. Theo Kreitner (1995), “động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vỉ của các cá nhân theo những mục đích nhất định”.
Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mục đích là lý do dẫn đến các hành vi của con người. Khái niệm này cho rằng, quá trình tâm lý định hướng cho các hành vỉ con người theo những mục đích nhất định được gọi là động lực. Theo Higgins (1994), “động lực là lực đẩy bên trong cá nhân dé đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Ö khái niệm này Higgins lai cho rằng, động lực là lực đẩy bên trong cá nhân con người chứ không phải bắt kỳ sức mạnh nào từ bên ngoài.
Chính những nhu cầu chưa được thỏa mãn đã tạo ra áp lực buộc con người phải hành động để tạo ra động lực cho con người. Khái niệm này hạn chế hơn khái niệm của Kreitner vì trên thực tế không phải mọi nhu cầu chưa thỏa mãn đều tạo ra động lực làm việc. Chỉ những nhu cầu chưa được thỏa mãn, có khả năng thực hiện và con người có mục tiêu, mong muốn thỏa mãn nhu cầu mới tạo ra động lực làm việc. Như vậy, hiểu một cách chung nhất “động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực đễ hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức”.
Tạo động lực Đối với các tổ chức sử dụng lao động, kết quả thực hiện mục tiêu của tổ chức phụ thuộc vào kết quả thực hiện công việc của người lao động. Mà kết quả làm việc của người lao động chỉ cao khi họ có động lực làm việc tốt vì chỉ khi đó họ mới tự giác dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao sao. cho hiệu quả. Chính vì vậy, các nhà quản trị clan phải tạo động lực làm việc cho con người.
“Tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản trị tác động lên người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẫy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức”. Một nhà quản trị làm tốt công tác tạo động lực nghĩa là họ làm cho người lao động có thể làm việc tích cực và duy trì trạng thái làm việc tích cực trong dài hạn. Đồng thời, người lao động có thể tự hướng hoạt động của mình vào các mục tiêu quan trọng của tô chức. Đẻ làm được điều này, nhà quản trị có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau, từ các công cụ về tài chính như tiền lương, tiền thưởng, các khoản thu nhập, các phúc lợi tài chính.
đến các công, cụ phi tài chính như đào tạo và phát triển nhân lực, tạo môi trường làm việc tương thích hay các hoạt động tập. Việc lựa chọn các công cụ này phụ. thuộc vào nhu cầu của người lao động, khả năng tài chính, mục tiêu tổ chức cần đạt được. nó được coi là một nghệ thuật quản trị 1.
Vai trò của tạo động lực Không chỉ trong lao động mới thực sự cần động lực mà ngay cả trong. cuộc sống hàng ngày con người rất cần có động lực sống. Một người không có động lực sống sẽ không thể tồn tại. Sự chọn lọc tự nhiên chính là động lực sống lớn nhất đối với mỗi con người.
Không chỉ riêng con người mà cả những loài động thực vật cũng vậy, để duy trì sự tồn tại của mình chúng phải thay đổi hình đáng, màu sắc. của mình để dễ thích nghi khi điều kiện sống. Trong kinh tế động lực có vai trò rất lớn, nhà nước muốn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bằng cách tạo môi trường đầu tư thông thoáng. Đó cũng chính là một trong những động lực thu hút đầu tư nước ngoài Trong doanh nghiệp việc tạo động lực xuất phát từ mục tiêu tạo động.
Tạo động lực để người lao động làm việc chăm chi hơn, cống hiết ết mình vì công ty, gắn bó với công ty lâu dài. Sự tồn tại và phát triển của công, ty phụ thuộc rất lớn đến nỗ lực làm việc của các thành viên, sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ của những con người tâm huyết, hết lòng vì công ty. Không một công ty nào có thể tồn tại và phát triển với những con người làm việc hời hot, tam ly luôn luôn chán nản, chán công việc. Chính vì thế bắt cứ công ty nào cũng cần phải tạo động lực lao động cho người lao động.
Tạo động lực lao động cho người lao động không những kích thích tâm lý làm việc cho người lao động mà nó còn tăng hiệu quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, xây dựng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Ta có thể hiểu mối quan hệ giữa năng suất lao động và động lực làm. việc qua biểu thức sau: Năng suất làm việc = Động lực làm việc + Năng lực 1. MỘT SÓ HỌC THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC Van đề động lực và tạo động lực, kích thích tính tích cực, sáng tạo của.
con người trong lao động từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Tùy theo phương pháp tiếp cận, các nhà khoa học đã đưa ra những quan niệm, cách thức tiếp cận và những lý giải khác nhau về động lực. Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Abraham Maslow là một nhà tâm lý học người Mỹ, thông qua sự nghiên cứu về nhu cầu và sự tự nhận thức về nhu cầu tự nhiên của con người đã đưa ra học thuyết phân cấp nhu cầu. Abraham Maslow cho rằng mục tiêu, động lực thúc đây hoạt động của con người là nhằm thỏa mãn các nhu cầu.Maslow, nhu cầu của con người được phân chia theo thứ bậc từ thấp đến cao: [wy _ Cấp thấp Hình 1.
Tháp nhu cầu ctia Maslow Theo Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động lực thúc đây nữa. Thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người.
Nhu cầu sinh lý (vật chất): là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở,. Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất.Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đây được mọi người. Nhu cầu sinh lý thường không kích thích nhân viên đạt hiệu quả tốt hơn trong công việc của mình.
Bạn cần ăn để không chết đói, uống nước để không chết khát. và khi ăn no, mặc ấm bạn sẽ không dừng thỏa mãn ở mức độ này mà muốn ăn ngon, mặc đẹp hay tiến xa hơn. 10 Nhu cầu về an toàn: là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc, mắt tài sản. Nếu trong cuộc ng người ta luôn lo lắng ra ngoài đường không an toàn, về nhà bị mắt cắp,.
người ta sẽ khó có thể an tâm làm việc, sinh sống. Chúng ta cần sự bảo vệ, an toàn trước những sự đe dọa, mối nguy hiểm về vật chất hay tỉnh thần. Đó là sự mong muốn sống một cuộc sống ôn định, một xã hội hòa bình. Đây cũng là lý do mà xuất hiện hệ thống pháp luật hay đội ngũ công an, cảnh sát trong cuộc sống của chúng ta.
Nhu cau xã hội (về liên kết và chấp nhận): do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận. Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Đây là một nhu cầu về tỉnh thần, khi con người mong muốn được gắn bó với tổ chức hay một phần trong tổ chức nào đó hay mong muốn về tình cảm thì ấy chính là nhu cầu xã hội.