chương 1 tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tang trưởng tín dụng của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu của 2 Ngân hàng TMCP tại Việt Nam dưới dạng dữ liệu bảng trong khoảng thời gian từ 7 2012-2021 và tiến hành với phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng bằng mô hình hồi quy bằng phần mềm Stata 16. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết của đề tài, các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề tang trưởng khoản vay tín dụng trong NHTM. Bên cạnh đó, tác giả sẽ sơ lược qua một số nghiên cứu trước đây để làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố có tác động để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu tại chương 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế đã đạt đến trình độ cao của kinh tế hàng hoá, ngân hàng đang đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế và tăng trưởng của khu vực (Andersen & Tarp, 2003).
Nền kinh tế chỉ có thể cất cánh, phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống ngân hàng vững mạnh. Ngân hàng và nền kinh tế có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau. Ngày nay, hệ thống ngân hàng của hầu hết các nước trên thế giới là ngân hàng hai cấp trong đó có Việt Nam: NHTW là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, là ngân hàng phát hành, ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của chính phủ còn các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010 (khoản 3 điều 4): Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Cùng với đó, theo Hussain và cộng sự, (2021) NHTM có vai trò quan trọng và tích cực đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, nếu hệ thống ngân hàng của một quốc gia hoạt động hiệu lực, hiệu quả và có kỷ luật; nó sẽ mang lại sự tăng trưởng nhanh chóng trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Ở các nước đang phát triển, ngân hàng đóng vai trò là kênh truyền tiền chính và là nguồn vốn chính cho các doanh nghiệp do thị trường vốn kém phát triển (Fase & Abma, 2003) Như vậy, có thể nhận định rằng NHTM là một tổ chức tài chính trung gian đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nền kinh tế thị trường, tích lũy các khoản tiền nhàn rỗi của người dân và là cách hiệu quả nhất tạo ra dòng tiền tín dụng trên thị 8 trường, duy trì sự cân bằng giữa các yêu cầu và khả năng sử dụng để thiết lập ổn định và phát triển kinh tế xã hội.2 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG 2.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một khái niệm cơ bản trong kinh tế, được ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Trong nền kinh tế hàng hóa, phát sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu bù đắp thiếu hụt trong sản xuất kinh doanh hay cuộc sống hàng ngày với những chủ thể thừa vốn có nhu cầu sinh lời từ đó thúc đẩy quá trình vay mượn vốn lẫn nhau. Hiện tượng này phát sinh một quan hệ kinh tế điều kiện có hoàn trả và có thêm phần thặng dư, gọi là tiền lãi (đối với vốn tạm thời nhàn rỗi) và giá vốn (đối với đối tượng thiếu vốn tạm thời sử dụng vốn nhàn rỗi).
Đây là một quan hệ tín dụng (Mises, 2013). Như vậy, tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể theo nguyên tắc trả lãi để thoả mãn nhu cầu của hai bên, là quan hệ bình đẳng cùng có lợi, mang tính thỏa thuận. Theo đó, tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng tiền tệ. Khác với tín dụng thương mại được cung cấp nhiều dưới hình thức hàng hóa, tín dụng ngân hàng được cung cấp dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiền mặt và tiền tín dụng (bút tệ).
Hoạt động tín dụng hay còn gọi là hoạt động cấp tín dụng, theo luật các ổ chức tín dụng (2010):“Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương mại phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng (Phan Thị Thu Hà, 2009). Như vậy trong bài nghiên cứu này, tín dụng ngân hàng là quan hệ luân chuyển vốn gián tiếp qua một tổ chức trung gian là NH kèm theo điều kiện nhất định và trong một thời gian nhất định theo như hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả một lượng giá trị cao hơn ban đầu.2 Vai trò của tín dụng 9 - Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế. Trong xã hội luôn có một số người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn muốn đi vay.
Song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau, hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời. Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại đã thoả mãn những lo lắng của những người có vốn và đáp ứng nhu cầu của người cần vốn, có nghĩa là các ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành phần kinh tế và cho vay lại các đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế. Hay nói cách khác: "tín dụng ngân hàng là chiếc cầu nối để những người có vốn và những người cần vốn gặp nhau" - Tín dụng ngân hàng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng, khối lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên khi thực hiện hoạt động cho vay và ngược lại sẽ giảm xuống khi thực hiện hoạt động thu nợ, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền trong toàn bộ nền kinh tế.
Ngân hàng sử dụng công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng để làm thay đổi khối lượng tiền vay, từ đó điều tiết được khối lượng tiền trong nền kinh tế và kiểm soát được lạm phát. ín dụng ngân hàng góp phần thỏa mãn các nhu cầu vốn tiền tệ tạm thời của doanh nghiệp đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất cũng như mở rộng sản xuất. - Tín dụng ngân hàng góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Trong điều kiện hội nhâp quốc tế như hiện nay. Thông qua các hình thức như nhận uỷ thác đầu tư, mở và thanh toán thư tín dụng, bảo lãnh hàng hoá xuất nhập khẩu, chuyển tiền nhanh đi các nơi.tín dụng ngân hàng đã trực tiếp tham gia trong quan hệ thanh toán quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, tài trợ cho các hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế và mở ra sự giao lưu giữa nước ta với các nước khác trên thế giới.
Theo Nguyễn Phi Lân, (2011) tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng đã góp phần giúp các doanh nghiệp trong nước từng bước tiếp cận thị trường quốc tế, đổi mới công nghệ và mẫu 10 mã sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng tại các thị trường quốc tế.3 Phân loại tín dụng - Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng thời gian ngắn : Là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng. Thường được dùng để cho vay bổ trợ vốn lưu động của những doanh nghiệp. Và nhu yếu giao dịch thanh toán cho hoạt động và sinh hoạt cá thể.
Tín dụng trung hạn : Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Dùng để cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, nâng cấp cải tiến và thay đổi kĩ thuật, lan rộng ra và thiết kế xây dựng. Tín dụng dài hạn : Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Được sử dụng để cho vay dự án bất động sản góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng mới.
Nâng cấp cải tiến và lan rộng ra sản xuất có qui mô lớn. - Căn cứ vào chủ thể tín dụng Tín dụng thương mại : Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Hoặc ứng tiền trước khi nhận hàng hóa. Tín dụng ngân hàng : Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và những doanh nghiệp, cá thể, tổ chức triển khai xã hội.
Tín dụng nhà nước : Là hình thức tín dụng bộc lộ mối quan hệ giữa Nhà nước với những doanh nghiệp, cá thể, tổ chức triển khai xã hội. Nhà nước vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. - Căn cứ vào sự đảm bảo hoàn trả nợ: Tín dụng tín chấp là hình thức tín dụng mà việc cho vay vốn dựa trên uy tín của người vay để đảm bảo việc hoàn trả nợ. Loại tín dụng này áp dụng trong trường hợp nếu giữa người cho vay và người đi vay có quan hệ thân tín, hoặc người đi vay là người có uy tín rất lớn và được mọi người công nhận, ví dụ như nhà nước.
Tín dụng thế chấp (vật chấp) là sự vay mượn mà việc hoàn trả nợ được đảm bảo không chỉ bới uy tín của người vay mà còn được đảm bảo bằng các tài sản của người đi vay hoặc người bảo lãnh của người đi vay.