Chương 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về tăng trưởng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại 1. Một số vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa a. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm chung về loại hình DNNVV mà tuỳ thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế mà đưa ra những quy định về DNNVV.
Khi định nghĩa về DNNVV, các nước thường căn cứ vào quy mô về vốn của doanh nghiệp, số lượng lao động thường xuyên tại doanh nghiệp, tổng doanh thu, tổng tài sản… của doanh nghiệp. Chung quy lại mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức trên khác nhau mà đưa ra định nghĩa riêng về DNNVV. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một thuật ngữ dùng để phân biệt giữa các doanh nghiệp với nhau về quy mô hoạt động. Dựa trên các tiêu thức khác nhau người ta chia ra làm hai loại doanh nghiệp đó là: doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tại Việt Nam, theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 của Chính phủ “Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” thì DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên thế giới, không có chỉ tiêu chuẩn để phân loại các doanh nghiệp khác nhau mà ngay cả cách phân loại doanh nghiệp cũng khác nhau. Có nước phân ra bốn loại doanh nghiệp như: Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn.
Có nước phân loại doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thành: Doanh nghiệp siêu nhỏ (thường là kinh tế hộ gia đình), doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn. Có nước (như Mỹ), chỉ những DNNVV độc lập thì mới là DNNVV, nhưng cũng có nước tính cả DNNVV là thành viên của các công ty lớn cũng là DNNVV. Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để phân loại doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn. Trong hai tiêu chuẩn ấy, khá nhiều nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan trọng hơn.
Theo Liên minh Châu Âu, DNNVV là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt quá 250 người. Tại Úc, DNNVV là doanh nghiệp có số lượng công nhân tối đa không vượt quá 300 người, còn tại Mỹ là không quá 1000 người. Trong cùng một khu vực, khái niệm DNNVV cũng có sự khác nhau. Tại Nam Phi, DNNVV là doanh nghiệp có từ 1 đến 500 công nhân.
Tại Chilê và Colombia con số này là 11 đến 200. Trong khi đó tại Mexico thì một doanh nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi là DNNVV. Nhà nước đã đưa ra tiêu chí phân loại DNNVV theo từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình thực tế của nền kinh tế, theo cơ chế thị trường như trong giai đoạn năm 1998 Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KTN ngày 20/06/1998 quy định tiêu chí DNNVV là vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. Đến năm 2001, để phù hợp với tình hình mới chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 định nghĩa DNNVV ở nước ta là: DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Đến năm 2009 ra Nghị định số 56/2009/NĐ-CP để thay thế cho Nghị định số 90/2001/NĐ-CP. Theo quy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP, DNNVV được phân loại cụ thể như sau: Bảng 1.1: Bảng phân loại DNNVV Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khu vực nghiệp siêu nhỏ Số lao Tổng nguồn Số lao Tổng nguồn Số lao động vốn động vốn động từ trên I. Nông, từ trên 10 từ trên 20 tỷ 10 người 20 tỷ đồng 200 người lâm nghiệp người đến đồng đến 100 trở xuống trở xuống đến 300 và thủy sản 200 người tỷ đồng người từ trên II. Công từ trên 10 từ trên 20 tỷ 10 người 20 tỷ đồng 200 người nghiệp và người đến đồng đến 100 trở xuống trở xuống đến 300 xây dựng 200 người tỷ đồng người III.
từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 Thương 10 người 10 tỷ đồng người đến đồng đến 50 người đến mại và dịch trở xuống trở xuống 50 người tỷ đồng 100 người vụ (Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 của Chính phủ) Trong quy định về cấp tín dụng của ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam quy định về việc phân khúc khách hàng doanh nghiệp căn cứ vào quy mô doanh thu năm tài chính gần nhất, cụ thể: Doanh nghiệp Doanh Doanh Doanh Tiêu chí siêu nhỏ nghiệp nhỏ nghiệp vừa nghiệp lớn Doanh thu 20 tỷ đồng trở từ 20 tỷ đồng từ 200 tỷ từ trên 600 tỷ xuống đến 200 tỷ đồng đến 600 đồng đồng tỷ đồng c. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có những đặc điểm khá đặc thù so với các loại hình doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghiệp khác trong nền kinh tế. Chúng ta có thể nhận ra những đặc điểm nổi bật của các DNNVV mang lại cho các doanh nghiệp này những ưu thế cũng như những hạn chế như sau: Ưu thế của DNNVV - Thứ nhất, DNNVV dễ dàng khởi sự và linh hoạt, năng động nhạy bén, dễ thích ứng với thị trường DNNVV chỉ cần có một số vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ hẹp là đã có thể khởi sự kinh doanh được. Với vòng quay sản phẩm nhanh, quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ các doanh nghiệp có thể chuyển đổi hướng sản xuất kinh doanh, và phản ứng nhanh nhạy trước thị trường khi có những biến đổi bất lợi cho doanh nghiệp.
DNNVV thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ, có thể nắm bắt được cả những yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương. Vì vậy DNNVV vó thể khai thác hết sức mạnh và khả năng của mình đạt hiệu quả kinh tế cao - Thứ hai, DNNVV dễ quản lý DNNVV có quy mô vừa và nhỏ, với số lượng vốn, lao động không nhiều, việc tổ chức tương đối gọn nhẹ và không có quá nhiều khâu trung gian nên việc quản lý tài chính cũng như quản lý nhân sự được thực hiện dễ dàng hơn. - Thứ ba, chi phí cố định thấp, linh hoạt trong việc sử dụng và thay đổi công nghệ DNNVV chỉ cần đầu tư nhỏ về tài sản cố định, có thể sử dụng máy móc thiết bị trong nước, dễ dàng thay đổi công nghệ đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà không tốn kém nhiều chi phí, có thể kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại, sản xuất chất lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuận lợi. DNNVV có lợi thế hơn doanh nghiệp lớn khi mà việc thay đổi theo kịp công nghệ mới sẽ đồng nghĩa với việc thay đổi đồng loạt hoặc toàn bộ một số lượng lớn các trang thiết bị máy móc với số vốn đầu tư không nhỏ.
- Thứ tư, DNNVV có thể phát huy được tiềm lực trong nước Do việc sản xuất của doanh nghiệp lớn thường cần trữ lượng nguyên vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 liệu lớn nên nhiều khi việc sử dụng nguyên liếu sẵn có tại các địa phương thường gặp khó khăn do lượng dự trữ thấp không đảm bảo cho sản xuất. Trong khi đó DNNVV có thể tận dụng được những lợi thế này. - Cuối cùng, DNNVV còn có những ưu thế như: Dễ phát huy bản chất hợp tác, đa dạng về lĩnh vực hoạt động, có mặt ở khắp các vùng lãnh thổ… Hạn chế của DNNVV - Khả năng tài chính của DNNVV hạn chế Quy mô vốn nhỏ là một đặc điểm mang tính chất hai mặt. Nó vừa mang lại ưu thế như đã nêu trên cho các DNNVV, nhưng đồng thời cũng đem lại không ít khó khăn cho họ.
Khả năng tài chính là vấn đề quan ngại của ngân hàng khi quyết định cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này, vì vốn chủ sở hữu nhỏ và thường không đảm bảo về tài sản thế chấp và các điều kiện khác cũng như báo cáo tài chính thường không rõ ràng, minh bạch. Do vậy, các DNNVV khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng chính thức của ngân hàng cũng như của các tổ chức tài chính khác… Chính vì thế phần lớn các doanh nghiệp thường ở trong tình trạng thiếu vốn, dẫn đến có thể bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh. - Môi trường kinh doanh không thuận lợi, thị trường tiêu thụ sản phẩm nhỏ và bấp bênh Do có những hạn chế về vốn nên khả năng quảng bá và tiếp cận thị trường trong nước cũng như nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn. Vốn ít, công nghệ kém cũng đồng nghĩa với việc chất lượng về sản phẩm, dịch vụ không đảm bảo và khó cạnh tranh với những sản phẩm của các doanh nghiệp lớn cùng ngành.
- Thiếu thông tin Cập nhật thông tin, phân tích và đánh giá thị trường là một trong những yếu tố rất quan trọng trong quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không quan tâm đến vấn đề này. Do không nắm bắt kịp thời tình hình về thị trường đầu vào, đầu ra cũng như các quy định pháp luật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 liên quan nên các doanh nghiệp này thường dễ mất tính chủ động. - Trình độ quản lý và đội ngũ lao động còn nhiều hạn chế Do phần lớn các DNNVV có không gian hoạt động tương đối nhỏ và kĩ năng sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc gia đình vì vậy trình độ quản lý và khả năng lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức và triển khai sản xuất kinh doanh còn mang tính tự phát.
Tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV tại ngân hàng thương mại 1.