CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG GDP, CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA NÓ 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Tăng trưởng GDP Trong thực tiễn và lý luận, để so sánh trình độ phát triển của một quốc gia qua các thời kỳ hay giữa các quốc gia khác nhau có thể sử dụng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) làm thƣớc đo các nguồn lực và phúc lợi vật chất. Trong luận văn này, sử dụng chủ yếu là phạm trù ―tổng sản phẩm quốc nội (GDP)‖ và ―tăng trƣởng GDP‖. Chỉ số tăng trƣởng GDP lần đầu tiên đƣợc sử dụng vào năm 1934 bởi tác giả Simon Kuznets [35, tr 7]. Kể từ đó đến nay, chỉ số GDP đƣợc sử dụng phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Thông qua chỉ số GDP, việc đánh giá quy mô, sức khỏe của các nền kinh tế cũng nhƣ tầm ảnh hƣởng, tiềm lực của một quốc gia đƣợc thực hiện dễ dàng hơn. Về định lƣợng GDP có thể đƣợc tính theo các phƣơng pháp khác nhau nhƣ: phƣơng pháp chi tiêu; phƣơng pháp thu nhập; và phƣơng pháp giá trị gia tăng. Theo phƣơng pháp chi tiêu – phƣơng pháp phổ biến nhất, công thức tính GDP nhƣ sau: GDP = C + I + G + (X-M) Trong đó: C (consumption) là tiêu dùng của tất cả các cá nhân/hộ gia đình trong nền kinh tế. I (investment) là đầu tƣ của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh.
Đây đƣợc coi là tiêu dùng của các nhà đầu tƣ. G (government spending) là tổng chi tiêu của chính phủ và nhà nƣớc (tiêu dùng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 của chính quyền). X-M (export-import) là "xuất khẩu ròng" của nền kinh tế, đo bằng tổng giá trị hàng hóa dịch vụ xuất khẩu – tổng giá trị hàng hóa dịch vụ nhập khẩu. Ngoài ra để tính đến yếu tố lạm phát, GDP đƣợc phân định thành GDP danh nghĩa và GDP thực tế.
GDP danh nghĩa là GDP tính theo giá hiện hành của năm tính; còn GDP thực tế (còn gọi là GDP theo giá so sánh) là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lƣợng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc (năm gốc đƣợc chọn theo quy định của luật). GDP thực tế loại trừ đƣợc ảnh hƣởng của sự biến động của giá cả (lạm phát). GDP thực tế giúp điều chỉnh lại những sai lệch nhƣ sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ƣớc lƣợng chuẩn hơn số lƣợng thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP. Một tiêu chí quan trọng khác hay đƣợc sử dụng là GDP bình quân đầu ngƣời (GDP/ngƣời).
Nó là chỉ tiêu phản ánh chung mức sống ngƣời dân, đƣợc tính bằng tỉ lệ giữa GDP với tổng dân số trung bình trong năm. Chỉ số GDP bình quân đầu ngƣời còn đƣợc sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cƣ giữa các quốc gia hoặc giữa các tỉnh, thành phố trong cả nƣớc với nhau. Gần đây, Ngân hàng thế giới (WorldBank) đã tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các chỉ số tổng thu nhập quốc dân (GNI) hoặc tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu ngƣời (GNI/ngƣời) nhằm thay thế cho chỉ số GDP/ngƣời [44]. GNI khác GDP ở chỗ là đƣợc tính dựa trên cơ sở thu nhập của công dân nên phản ánh chính xác mức sống hơn.
Vì vậy, để phân nhóm chính xác hơn giữa các quốc gia, năm 2010 Ngân hàng thế giới đã phân chia các quốc gia dựa trên thu nhập bình quân đầu ngƣời - GNI/ngƣời (tính theo sức mua tƣơng đƣơng) thành bốn nhóm sau [45]: - Nhóm nƣớc thu nhập cao từ 12.196 USD/ngƣời/năm trở lên. - Nhóm nƣớc thu nhập trung bình (cao) từ 3.195 USD/ngƣời/năm. - Nhóm nƣớc thu nhập trung bình (thấp) từ 996 đến 3.945 USD/ngƣời/năm. - Nhóm nƣớc thu nhập thấp dƣới 996 USD/ngƣời/năm.
Ƣu điểm của chỉ số GNI bình quân so với GDP bình quân là nó phản ánh đúng hơn mức thu nhập thực tế hay mức sống của một ngƣời dân của một quốc gia này so TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 với ngƣời dân của các quốc gia khác. GDP là tiêu chí tiện lợi nhất để tính mức tăng trƣởng kinh tế của một nƣớc biểu hiện bằng giá cả và là chỉ số đƣợc sử dụng phổ biến để so sánh quy mô và tốc độ tăng trƣởng của các nền kinh tế. Tăng trƣởng GDP chính là mức gia tăng GDP năm sau so với năm trƣớc và đƣợc thể hiện bằng đơn vị tính ―phần trăm - %‖, biểu diễn bằng công thức toán học: y = dY/Y × 100(%) trong đó, Y (yield) là qui mô của nền kinh tế, y (growth) là tốc độ tăng trƣởng. Từ các khái niệm trên đây, chúng ta có thể hiểu tăng trƣởng GDP là: mức độ tăng trƣởng bằng giá trị tổng sản lƣợng hàng hóa (kể cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) cuối cùng đƣợc sản xuất trong một năm trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia.
Hay nói cách khác là toàn bộ thu nhập của công dân trong nƣớc sáng tạo ra (cũng có thể hiểu là tất cả các loại chi tiêu trong nền kinh tế: tiêu dùng, đầu tƣ, mua sắm hàng hóa của cá nhân, hộ gia đình và chính phủ). Tăng trƣởng GDP tạo điều kiện cho xã hội tiêu dùng hàng hoá-dịch vụ tư cũng nhƣ hàng hoá-dịch vụ công nhiều hơn, đồng thời góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Nhƣng chỉ số GDP/ngƣời hay mức tăng GDP hàng năm cũng chỉ đại diện mức cải thiện thu nhập thuần túy, nó còn rất nhiều hạn chế để đánh giá tiêu chuẩn sống của mỗi cá nhân. GDP chƣa tính đến các yếu tố của sự tăng trƣởng bền vững, chƣa bù đắp cho những tổn thất của hệ sinh thái và môi trƣờng.
- Phát triển kinh tế Thuật ngữ ―phát triển kinh tế‖ đƣợc bắt đầu sử dụng phổ biến hơn từ sau thời Keynes nhằm phân biệt với tăng trƣởng kinh tế. Phát triển kinh tế đề cập đến nhiều vấn đề xã hội và tiến bộ công nghệ. Nó hàm ý một sự thay đổi trong cách thức mà hàng hoá và dịch vụ đƣợc sản xuất ra, nó không chỉ đơn thuần là sự gia tăng trong sản xuất bằng cách sử dụng các phƣơng pháp cũ với quy mô rộng lớn hơn: ―Phát triển kinh tế là sự gia tăng mức sống của người dân trong một quốc gia thông qua sự tăng trưởng bền vững từ một nền kinh tế đơn giản có thu nhập thấp tiến lên một nền kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 hiện đại có thu nhập cao‖.[29] Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trƣởng kinh tế. Nó bao gồm tăng trƣởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (nhƣ phúc lợi xã hội, tuổi thọ,vv.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ).
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trƣờng, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn. Nhiều nhà kinh tế học ở các trƣờng phái khác nhau trên thế giới tranh luận về vấn đề ―tăng trƣởng kinh tế tác động nhƣ thế nào đến phát triển kinh tế?‖. Một số cho rằng các quốc gia nghèo có sự tăng trƣởng kinh tế ít tạo ra hoặc là không tạo ra phát triển kinh tế; những quốc gia này chỉ đóng vai trò chủ yếu là các nhà cung cấp tài nguyên- khoáng sản cho các nƣớc công nghiệp giàu có (một điển hình là khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia giàu nhất và quốc gia nghèo nhất ngày càng lớn). Stiglitz cũng đã bày tỏ lo ngại rằng: ―kể cả những quốc gia có được một chút tăng trưởng kinh tế cũng thấy rõ là lợi ích từ sự tăng trưởng đó chủ yếu tích tụ trong tay những người giàu và đặc biệt là tầng lớp cực giàu chiếm khoảng 10%, trong khi nghèo đói vẫn hoành hành và thậm chí trong một số trường hợp, thu nhập của những người nghèo nhất còn tụt giảm‖.[30] Một số có lập luận phản đối, cho rằng tăng trƣởng kinh tế tạo lên phát triển kinh tế vì một phần trong thu nhập tăng thêm đƣợc chi cho các yếu tố của phát triển con ngƣời nhƣ giáo dục và y tế.
- Phát triển bền vững Trong thực tiễn quá trình tăng trƣởng kinh tế ở các quốc gia, nhiều vấn đề toàn cầu phức tạp và ngày càng trầm trọng đòi hỏi nhân loại phải cùng nhau giải quyết nhƣ: vấn đề sinh thái, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trƣờng, cạn kiệt tài nguyên, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, khủng hoảng vệ sinh an toàn thực phẩm, và nạn buôn lậu,vv. Vì vậy vào năm 1980, thuật ngữ ―phát triển bền vững‖ xuất hiện lần đầu tiên trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: ―Sự phát triển TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học‖. Sau đó, khái niệm này đƣợc phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới (WCED). Báo cáo nêu rõ: Phát triển bền vững là ―sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.2 Nâng cao chất lượng cuộc sống Nâng cao chất lƣợng cuộc sống chính là sự phát triển tích cực các nhân tố cấu thành nên chất lƣợng cuộc sống.
Song chất lƣợng cuộc sống là một khái niệm rộng, phức tạp nên cũng có nhiều cách tiếp tận khác nhau đối với vấn đề này. Theo từ điển về Con ngƣời (2009) thì: ―Thuật ngữ chất lƣợng cuộc sống là được sử dụng để đánh giá sự hạnh phúc chung của các cá nhân và xã hội. Thuật ngữ này được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, y tế, và chính trị. Các chỉ số tiêu chuẩn về chất lượng cuộc sống bao gồm không chỉ sự giàu có vật chất và việc làm, mà còn là môi trường sinh hoạt, tình trạng thể chất và sức khỏe tâm thần, điều kiện giáo dục, giải trí và thời gian dành cho giải trí, và các quan hệ xã hội.