PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam những cơ hội và nhiều thách thức. Một trong những lĩnh vực cần phải tái cấu trúc lại theo hướng hiện đại hóa là lĩnh vực tài chính ngân hàng. Để cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài vốn đã hình thành rất lâu, có bề dày kinh nghiệm về hoạt động trên lĩnh vực ngân hàng, mạnh về tài chính, công nghệ, đa dạng về sản phẩm, đòi hỏi các ngân hàng trong nước phải chú trọng phát triển các sản phẩm ngân hàng.
Bên cạnh các sản phẩm truyền thống thì cần chú trọng các sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng nhằm đa dạng hóa sản phẩm ngân hàng đồng thời cũng tăng được nguồn thu cho hoạt động ngân hàng. Ở Việt Nam, thu nhập của các NHTM trước đây chủ yếu là thu nhập từ hoạt động tín dụng nhưng sau khi gia nhập WTO, các NHTM đã quan tâm hơn đến hoạt động dịch vụ. Tuy nhiên tỷ trọng thu từ hoạt động dịch vụ vẫn còn thấp so với hoạt động tín dụng trong khi ở ngân hàng các nước thu từ hoạt động tín dụng chỉ chiếm 15-20%. Trong môi trường mới với nhiều khó khăn thử thách đòi hỏi cơ cấu thu nhập tại các NHTM trong nước nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam(Agribank) nói riêng cần phải thay đổi sao cho phù hợp.
Agribank trong thời gian qua đã từng bước chuyển hướng sang tập trung nghiên cứu, đầu tư phát triển dịch vụ ngân hàng tạo nền tảng để từng bước tăng thu cho hoạt động dịch vụ, phấn đấu trở thành một ngân hàng hiện đại, có quy mô lớn trong khu vực. Với chiến lược đó, Agribank Chi nhánh thành phố Cao Bằng là một chi nhánh trong hệ thống cũng phải có những giải pháp riêng để góp phần vào mục tiêu chung của Agribank. Thời gian qua, Agribank Chi nhánh thành phố Cao Bằng đã nhận thức được vai trò của dịch vụ phi tín dụng mang lại như: Tạo nguồn thu ổn định, an toàn; góp phần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, từ đó thu hút và mở rộng đến nhiều đối tượng khách hàng; góp phần nâng cao vị thế của ngân 2 hàng. Tuy nhiên, tỷ trọng thu từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng của Agribank Chi nhánh TP Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2018 chỉ chiếm từ 12%-14% so với dịch vụ tín dụng; tốc độ tăng thu dịch vụ phí tín dụng còn chậmmức thu dịch vụ phi tín dụng năm 2018 chỉ cao hơn mức thu năm 2015 là 94 triệu đồng, tức tăng 1,69% so với năm 2015; cơ cấu thu dịch vụ phi tín dụng có sự chênh lệch lớn giữa thu phí dịch vụ thanh toán (43,41%); các khoản thu từ dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử tăng chậm cả về giá trị tuyệt đối và tương đối; riêng thu từ dịch vụ ngân quỹ giảm mạnh.
Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn và nhu cầu cấp thiết ở Agribank Chi nhánh thành phố Cao Bằng trong việc tăng thu dịch vụ ngân hàng, tác giả chọn đề tài: “Tăng thu dịch vụ phi tín dụng tại Agribank Chi nhánh thành phố Cao Bằng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Liên quan đến vấn đề tăng thu dịch vụ của ngân hàng đã có một số tác giả tiếp cận ở các mảng nghiệp vụ và góc độ khác nhau. Một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến các dịch vụ của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua như: * Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài - Matthias Kohler: Does non-interest income make banks more risky? Retail- versus investment-oriented banks (Có thu nhập ngoài lãi làm cho ngân hàng rủi ro hơn? Ngân hàng định hướng bán lẻ so với đầu tư).Tác giả đã nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro ngân hàng giữa các loại hình hoạt động Ngân hàng như retail- versus investment - oriented banks (bán lẻ - Ngân hàng định hướng bán lẻ so với đầu tư). Cụ thể hơn, các ngân hàng khác tập trung vào các dịch vụ cho vay và nhận tiền gửi trở nên ổn định hơn nếu họ tăng thị phần của các hoạt động thu nhập ngoài lãi.
Còn các ngân hàng như: Investment-oriented banks (Ngân hàng định hướng đầu tư) trở nên rủi ro đáng kể. Họ không chỉ tạo ra một tỷ lệ cao trong thu nhập từ các hoạt động phi truyền thống, mà còn tham gia vào các hoạt động khác nhau từ các ngân hàng bán lẻ. Điều này có thể hạn chế những lợi ích tiềm năng cho 3 các ngân hàng đầu tư theo hướng đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi. Ngụ ý của tác giả nói lên rằng: có sự tác động khác nhau giữa thu nhập ngoài lãi đến rủi ro ngân hàng của các loại hình ngân hàng: Retail- versus investment-orientedbanks(Ngân hàng định hướng bán lẻ so với đầu tư).
Ilias Santouridis,Maria Kyritsi: Investigating the Determinants of Internet Banking Adoption in Greece (Điều tra các yếu tố quyết định áp dụng ngân hàng Iiternet ở Hy Lạp).Nhóm tác giả nghiên cứu cụ thể với một dịch vụ ngân hàng là dịch vụinternetbanking.Dịchvụinternetbankinggiúpchongườisửdụngtruycậpvào dịch vụ ngân hàng nhanh hơn, giảm thời gian, truy cập trực tiếp từ bất cứ nơi nào trên thếgiới, chi phí thấp hơn và loại bỏ sự lo lắng do mang tiền mặt. Tuy nhiên, internet banking vẫn chưa được tập trung rộng rãi.Nhóm tác giả nghiên cứu với mục đích là để xác định những yếu tố nổi bật nhất ảnh hưởng đến khách hàng sử dụng dịch vụ internet banking ở Hy Lạp. Nghiên cứu được tiến hành bằng cách sử dụng một bảng hỏi và phỏng vấn khách hàng. Mục đích của nghiên cứu là đo lường nhận thứccủa khách hàng về tính tiện ích, mức độ an toàn, yên tâm, sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ internet banking.
- Van der Westhuizen, Gert: The role of interest income and non-interest income on the relative efficiency of bank regions: The case of a large south African bank (Vai trò của thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi đối với hiệu quả tương đối của các khu vực ngân hàng: Trường hợp của một ngân hàng lớn ở Nam Phi). Nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu Envelopment Analysis (DEA) để ước lượng hiệu quả kỹ thuật, phân bổ chi phí của 37 chi nhánh của các ngân hàng lớn ở Nam Phi. Hai mô hình được áp dụng để xác định tác động của thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kết luận của nghiên cứu là: ngân hàng có thể trở nên hiệu quả hơn bằng các di chuyển ra khỏi thu nhập lãi với thu nhập ngoàilãi như nguồn thu nhập chính của ngân hàng.
Các ngân hàng cần phải được di chuyển ra khỏi vai trò truyền thống của các trung gian cho một vai trò cung ứng các dịch vụ khác nhau. Thu nhập lãi là đơn chiều theo ý nghĩa của ngân hàng dự trữ Nam Phi. Thu nhập ngoài lãi là đa chiều với các tùy chọn khác nhau có sẵn trong cung ứng dịch vụ cho khách hàng (ví dụ bán chéo dịch vụ và hướng tới ngân hàng 1cửa). 4 * Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam - Phạm Thị Đan Phượng (2008), “Giải pháp tăng tỷ trọng thu từ hoạt động dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả đã hệ thống hóa về lý luận cơ bản của các hoạt động kinh doanh và cơ cấu thu nhập của các NHTM; Phân tích những thách thức và cơ hội của NHTM Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống BIDV và một số NHTM trong nước khác. Đề ra giải pháp giúp BIDV nói riêng và các NHTM trong nước khác nói chung xây dựng chính sách phát triển dịch vụ hiệu quả, đồng thời định hướng cơ cấu thu nhập phù hợp, góp phần tránh những thiệt hại và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đề tài này giúp BIDV và các NHTM trong nước khác rút ra những kinh nghiệm từ những sai lầm trong quá khứ và chuẩn bị đương đầu với những thách thức trong quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính ngân hàng, việc xây dựng một chiến lược kinh doanh nói chung và một cơ cấu thu nhập thích hợp nói riêng mang tính dài hạn là điều hết sức cần thiết trong hoạt động của một ngân hàng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tiếp tục tồn tại và phát triển trong xu thế hội nhập ngày càng gay gắt.
- Đinh Thị Thanh Tâm (2011), “Giải pháp tăng thu từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình nghiên cứu tác giả đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với việc nghiên cứu số liệu thứ cấp qua số liệu trong báo cáo các năm của Agribank, sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp để rút ra kết luận đồng thời đề xuất giải pháp có tính khả thi cho quá trình tăng thu từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại Agribank trong giai đoạn hiện nay. Luận văn phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và cơ cấu thu nhập của Agribank, chỉ ra nguyên nhân những mặt tồn tại, đề xuất các giải pháp để tăng thu từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng của Agribank nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của 5 Agribanktrong thời gian tiếp tới. - Nguyễn Thị Mai Loan (2012), “Giải pháp tăng thu dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh KCN Biên Hòa ”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ phí tín dụng và tỷ trọng thu dịch vụ phi tín dụng của Vietinbank khu công nghiệp Biên Hòa; đánh giá thị phần, định mức hiệu quả và mức độ cạnh tranh của từng dịch vụ so với các NHTM trên địa bàn.